CHÍNH KHÍ VIỆT

Monday, December 20, 2021

KÍNH CHÚC GIÁNG SINH VÀ NĂM MỚI 2022

 KÍNH CHÚC GIÁNG SINH VÀ NĂM MỚI 2022



Chính Khí Việt và anh chị em thân hữu website Chính Khí Việt xin kính chúc quý Niên Trưởng, quý anh chị em thân hữu Google+, Facebook và Quý Bạn Đọc khắp nơi trên toàn thế giới mội Năm Mới 2022 Khang An - Hạnh Phúc và Vạn Sự Như Ý.
ĐẶC BIỆT TRONG MÙA DỊCH BỆNH, KÍNH CHÚC QUÝ CAO NIÊN VÀ TẤT CẢ MỌI NGƯỜI BÌNH AN PHÓ THÁC TRONG TAY MẸ MARIA VÀ HÀI NHI GIÊSU.
 
Chính Khí Việt






GHI NHỚ VỀ LỄ NOEL CỦA HÀ NỘI
Nhà Báo Việt Thường


NĂM 1954.
Hà-nội vẫn có cái lạnh thật dễ thương của tháng cuối trong năm, không hề có chút gì giống nỗi cô đơn của Déméthée vì phải xa cô con Proserpine đã bị thần Pluton nứt mặt đất bắt xuống âm ty làm vợ.
 
Nhà nhà đều chuẩn bị đón mừng lễ Giáng-sinh, kể cả những gia đình không phải công giáo. Mặc dù dân Hà-nội tránh nạn cộng sản di cư vào Nam như thác, nhưng bù lại, binh lính, cán bộ, công an và dân các tỉnh ùn ùn kéo về lấp chỗ trống nhanh như cỏ dại mọc đầu mùa xuân.
 
Còn hơn thế, Hà-nội như có vẻ sầm uất hơn. Hàng tồn kho của Hà-nội vẫn còn nhiều, lại càng nhiều hơn gấp bội vì số người di cư vào Nam mang bán tống bán tháo tất cả những gì có thể bán được. Và thế là "Chợ Trời" của Hà-nội là toàn bộ "36 phố phường".
 
Các phố xưa kia cổng kín tường cao, trưa trưa chỉ có tiếng rao của người bán dạo đồ thêu, đồ làm vệ sinh trong nhà, củi tạ, nước mắm Phú-quốc v.v... vang lên như tiếng chim gõ kiến trong cánh rừng già, thì nay cũng thành chợ: đồ gỗ ở phố Phan Chu Trinh; máy ở Hàm Long; sách cũ ở đầu Bà Triệu; xe đạp ở Quang Trung và Nguyễn Du; quần áo ở Tô Hiến Thành... rồi tới Hàng Bài, Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng.
 
Ồn ào nhất là khu ga, lan ra cả Sinh Từ, Nguyễn Thái Học, Cửa Nam, Kỳ Đồng, Cấm Chỉ, Phùng Hưng, cho đến tận cả Cột Cờ.
 
Tuy mùa hoa phượng vĩ đã tàn nhưng Hà-nội đỏ ối hơn bao giờ hết. Các công sở cho đến đầu đường, xó chợ, cổng đền, chùa và nhà thờ, chỗ nào cũng cờ đỏ sao vàng, nhiều chỗ còn cả cờ Nga và cờ Trung cộng. Lính Tây rút hết, nhưng lại có lính của ủy ban quốc tế: Ca-na-đa, Ba-lan, Ấn-độ. Ảnh của lãnh tụ vô sản trong nước và ngoài nước được treo khắp hang cùng. ngõ hẻm và bày bán ngay ngoài đường ở các phố Tràng Tiền, Cửa Nam, Hàng Buồm, Hàng Giấy, Bờ Hồ... đủ mọi mẫu: rậm râu sâu mắt cũng có; hói đầu trán dô cũng có; mập ú cũng có; mặt như mâm bánh đúc cũng có v.v... Nếu không có chú thích chức vụ dưới ảnh thì cứ tưởng đây là các loại diễn viên của đoàn tạp kỹ nào vậy.


Cuối phố Lò Đúc, gần ngay nhà thương chó - nay là cơ quan của bộ Lâm nghiệp - ai ai cũng mừng cho cụ phán Thành, chủ căn nhà lầu mới nhất, khỏi phải sống lẻ loi vì đã có con trai là cán bộ cùng vợ con mới từ Việt Bắc về đoàn tụ. Cho nên Nô-en 1954 của nhà cụ phán Thành được chuẩn bị khang trang hơn mọi năm. Cây Nô-en của nhà cụ to đẹp nhất khu vực đó.
 
Gần chín năm trời, cụ phán Thành đã dành nhiều thì giờ ngắm các tượng Thánh cũng như cầu xin Đức Mẹ cho ngày đoàn tụ này.
 
Con trai một của cụ là cán bộ hàm vụ trưởng, công tác ở văn phòng phủ thủ tướng; con dâu của cụ, xuất thân là rễ cốt cán trong cải cách ruộng đất thí điểm ở Thái Nguyên, nay là cán bộ tổ chức của Tổng công đoàn và đứa cháu nội của cụ vừa tròn sáu tháng. Con, dâu và cháu của cụ về Hà-nội đã vài tháng nay, nhưng vẫn ở tại cơ quan.
 
Chỉ có con trai cụ về nhà hai lần thăm cụ, uống vội một chén trà chứ không chịu ăn uống gì và hấp ta hấp tấp bỏ đi cứ như là nhà có ma. Mâm cơm được dọn ra, anh ta liếc nhìn đĩa thịt gà, cái yết hầu động đậy, nét mặt căng thẳng nhưng vẫn không đủ can đảm ngồi lại ăn với bố bữa cơm sau chín năm xa cách!
 
 Rồi, một buổi tối, anh ta về nhà, cũng vội vã uống chén trà để báo cho cụ phán Thành biết vài ngày nữa anh ta sẽ đem vợ con về ở ngôi nhà này vì đã được phép của "đảng ủy" cơ quan.
 
Xa nhau chín năm, người con trai cụ phán Thành thay đổi quá nhiều, cả từ vẻ mặt, ánh mắt, người ngợm cho đến ngôn ngữ ăn nói. Hai cha con ngồi chỉ cách nhau một cái bàn mà sao còn thấy xa hơn Hà-Nội lên Việt-Bắc!


... ĐỂ CHIA LY HƠN


Cụ phán Thành và mấy bà con giáo dân hàng xóm của cụ sang xem cây Nô-en không còn tin ở lỗ tai của mình khi nghe anh cán bộ - con trai của cụ - chỉ vào cây Nô-en và nói vẻ khó chịu:


- Thầy rước cái "của nợ" này về làm gì cho tốn tiền lại rác nhà.


Dân công giáo toàn tòng, được mặc chiếc áo đại cán màu lá mạ, vai đeo xắc-cốt vải bạt, ăn nói như vậy đấy. Lặng người một lúc cụ phán mới nói được:


- Anh có còn là con chiên của Chúa không mà nói vậy?


- Thầy, u có công đẻ ra con, nhưng Đảng và Bác cho con sự sống, cho con lý tưởng. Giờ đây con là thuộc về Đảng và Bác, xin thầy và bà con lối xóm nhớ cho như vậy.


Cụ phán Thành ú ớ:


- Vậy là anh không... không...


- Vâng, con là người cách mạng, không tin ở tôn giáo nào cả, đó là thuốc phiện như Marx đã nói và...


Anh con nhìn bố, vẻ ái ngại:


- Thầy có được nghe chính Chúa nói không?


Cụ phán nhìn con, vẻ xa lạ:


- Vậy anh có được nghe chính Marx nói không?


Anh đỏ mặt, lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì cụ phán Thành nói tiếp:


- Anh có nhận tôi là cha đẻ của anh nữa không thì tùy, nhưng chúng ta không cần báng bổ đức tin của nhau. Tôi là con chiên ngoan đạo, sống trong sự che chở của Chúa. Anh là người cách mạng, anh tin vào cụ Karl Marx, đó là việc của anh. Anh gọi đó là chủ nghĩa hay tôn giáo, tất cả đều là cách diễn đạt mà thôi.


Những người được chứng kiến cuộc đối thoại của hai cha con cụ phán Thành không thể nào quên được vẻ đau khổ của người cha và vẻ căm thù lạnh lùng của người con. Câu chuyện hôm ấy đã chấm dứt tình nghĩa cha con.
 
Căn nhà được bít lại: cụ phán Thành ở trên lầu và gia đình người con ở tầng trệt. Đến năm 1960, cụ phán Thành bị cải tạo trong diện tư sản nhà đất, cụ phải dọn ra căn phòng phía sau, trên nóc nhà bếp, kế sân thượng phơi quần áo, rộng độ gần hai chục mét vuông.
 
Đấy là một sự chiếu cố của ban cải tạo, vì đúng ra tiêu chuẩn đầu người chỉ là năm mét vuông. Mà, cũng có thể không tìm ra căn phòng nào có cái diện tích năm mét vuông như vậy, ngoại trừ cái cầu tiêu phụ!
 
Căn nhà lầu của cụ phán Thành, chắt chiu cả đời người cạo giấy ở sở Phi-năng (tài chánh) của Pháp và sự buôn bán tảo tần của vợ mới làm nên được, nay có chủ mới là Sở quản lý nhà đất Hà-nội.
 
Căn nhà đó được chia cho con cụ phán Thành ở vì là cán bộ trung cao của đảng, tiền nhà do cơ quan đài thọ. Vài năm sau, cụ phán Thành chết cũng chỉ được bà con trong họ đạo lo chôn cất. Người con trai chỉ đến viếng như một... người hàng xóm bình thường. Thời gian cứ thong thả đi qua. Nô-en nối tiếp Nô-en, chẳng biết còn được bao người nhớ đến câu chuyện trên, một thời là chuyện cửa miệng của người dân Hà-nội (không phải dân ngụ cư)?


Chuyện tưởng như có tính riêng biệt, ai ngờ đấy chính là "mâu thuẫn mới", của xã hội Bắc Việt Nam, được hình thành từ ngày ông Hồ chí Minh về trú ngụ tại phủ toàn quyền Đông Dương, cho đến ngày phải theo qui luật "có sinh có tử", ông vẫn luyến tiếc cái phủ toàn quyền ấy, vì nó tượng trưng cho uy quyền cá nhân của kẻ ngự tọa trong đó lên đầu nhân dân của ba nước Việt, Lào và Cam-bốt, cho nên lăng của ông được xây liền ngay cạnh phủ toàn quyền cũ, hình thành một "quần thể" kiến trúc biểu tượng quyền uy tối thượng cả khi sống cho đến lúc chết.


TỪ ĐẤU TỐ... ĐẾN VU CÁO


Bốn cuộc cách mạng: cải cách ruộng đất; văn hóa và tư tưởng; cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và chấn chỉnh tổ chức do ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta phát động và thực hiện, đã làm đảo lộn mọi nền tảng đạo đức xã hội, mọi giá trị văn hóa tư tưởng, mọi sản phẩm của thành quả lao động, mọi khái niệm... mà loài người đã phải trả những giá rất đắt trong quá trình lịch sử mới có được, mới định hình được.


Hà-nội là nơi tập trung của nhiều tôn giáo, nhưng chẳng biết từ thuở nào, ngày Nô-en đã trở thành ngày hi vọng của tất cả mọi người, của tất cả mọi nhà. Không ít gia đình Phật -giáo cũng có cây Nô-en trong nhà và dù không là giáo dân, nam nữ thanh niên Hà-nội vẫn dự lễ đêm Chúa Giáng-sinh với đầy tôn kính.


Chẳng biết dưới triều Tự Đức, giáo dân bị giết ra sao, nhưng đến "thời đại Hồ chí Minh" thì giáo dân (ở Bắc Việt Nam) là đối tượng nặng nề nhất và lâu dài nhất chịu đựng mọi thủ đoạn tàn bạo của ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta.


Trong âm mưu chống di cư vào Nam, giáo dân ở Ba Làng đã bị tàn sát cả già, trẻ, phụ nữ có thai. Cánh tay thực hiện "tư tưởng sát nhân" này của ông Hồ chí Minh là trung tá Nguyễn văn Đổng (tức Đồng sỹ Nguyên, sau này vào bộ chính trị cộng đảng và giữ chức phó thủ tướng). Cái tin đau lòng đó đã bay về Hà-nội, và mặc dù vào lúc xế chiều của phong trào đòi dân chủ của Nhân Văn - Giai Phẩm, nhưng người Hà-nội vẫn được nghe một bài thơ truyền miệng (sau này được xếp vào loại "thơ ghế đá"):


"Đồng Sỹ Nguyên, Đồng Sỹ Nguyên!
Theo Hồ ngươi giết con chiên Ba Làng.
Tội ác ngươi nhất thế gian
Trẻ thơ cũng bắn, già làng cũng đâm
Cỏ cây cũng phải khóc thầm
Núi sông cũng phải một lần phong ba
Đảng ngươi, đảng lũ Tàu, Nga
Cộng ngươi, cộng máu, cộng hòa thịt xương
Cách ngươi, một lũ bất lương
Cùng quân ăn cướp, cùng phường lưu manh
Đảng ngươi tội ác rành rành
Chứng nhân còn đó, sử xanh, Đất, Trời
Lũ ngươi đền tội đời đời!"


Tổ quốc tế (thành phần là Ấn độ) có vào Ba Làng thu thập tài liệu, nhưng Khu ủy cộng sản Khu Bốn, cơ quan an ninh và trung tá Nguyễn văn Đổng có "sáng kiến" dựng ra một toán cướp tấn công mấy chiếc xe ô-tô mang cờ trắng có chữ IC của tổ quốc tế, "trấn lột" hết mọi thứ - tất nhiên là đơn từ khiếu nại và mọi hình ảnh tang chứng về vụ tàn sát giáo dân của chính quyền Hồ chí Minh - và còn cho các nhân viên quốc tế này "ăn no" trận đòn hội chợ.
 
Như tình tiết trong một phim ảnh, ở phút gay go nhất thì "công an" và "bộ đội cách mạng" tới kịp thời giải cứu cho tổ quốc tế "thoát chết". Tất cả được sự săn sóc của các cô y tá trẻ, tay mát rười rượi và quà lưu niệm của ủy ban tỉnh và các đoàn thể "vừa hậu hĩnh, vừa giá trị", cho nên tổ quốc tế hỉ hả ra về "cứ như là vừa đi du lịch vào miền Trung, quê của Bác Hồ" cho biết xứ của cách mạng.


Chuyện chưa dừng ở đó. Cơ quan an ninh của ông Hồ chí Minh quyết "đẩy" bằng được một đức cha người Canada tên là Denis Parkett, tên Việt là Cha Quý, ở nhà thờ Nam Đồng, bởi lúc đó trong ủy ban quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam, phái đoàn Canada giữ ghế chủ tịch. Ngón nghề của họ vẫn là bổn cũ soạn lại: vu cáo, tố bậy. Vở kịch do biên kịch và đạo diễn đều là người của cơ quan an ninh thuộc phòng quản lý tôn giáo.


NHỮNG NGƯỜI MỘ ĐẠO


Từ mùa hè 1957, chiều chiều thường có một cặp vợ chồng độ tuổi trung niên đi xe đạp qua ngã Hàng Bột xuống nhà thờ Nam Đồng. Người chồng da mặt đen, cặp lông mày sâu dóm, một hàng râu cứng và rậm trên cặp môi thâm xì và thêm hai con mắt trắng dã có vằn tia máu. Vợ nói tiếng Bắc, hai gò má cao, cặp mắt ướt và mệt mỏi, đầu búi tóc, dáng người sang trọng. Hai người đi bên nhau thật chẳng xứng đôi chút nào.


Đây là hai người đang muốn cải đạo. Họ xuống nhà thờ Nam Đồng để gặp đức Cha người Canada, có tên là Denis Parkett và tên Việt là Cha Quý xin được học kinh bổn. Cùng với hai vợ chồng này, khoảng thời gian đó có 3 chị em gái tuổi xồn xồn cũng xin được học kinh cải đạo ở chỗ đức Cha Denis Parkett.
 
Cô chị tên là Th., ngoài ba mươi tuổi vẫn chưa chồng, đang hứa hôn với một thiếu tá công an; cô em tên là S. có một con gái, chồng tên là Gi..., người phố Hàng Đào, đang ở Pháp chuẩn bị thi tú tài phần 2 và cô em chót là O..


Không biết năm người này khai với cha Quý ra sao về tên tuổi, nghề nghiệp và địa chỉ. Nhưng, nếu ai tò mò thì thấy người đàn ông mắt trắng dã đó tên là Ba, còn vợ là Lê thị Nhung, làm việc ở văn phòng công an Khu Hai Bà (nay là Quận Hai Bà).


Những người "mộ đạo" đó tiếp tục học kinh bổn cho đến tận giữa năm 1958 mới thôi. Bởi vì, nếu ai hay để ý tin trên báo sẽ thấy ở trang hai, báo Thời Mới, chỗ "kín đáo" nhất có một tin ngắn nói về việc chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra lệnh trục xuất "ông Denis Parkett, quốc tịch Canada, có tên Việt là Quý, hành nghề tôn giáo, bị "giáo dân" cáo giác là tuyên truyền phản cách mạng và có biểu hiện hoạt động gián điệp."


Còn năm người "mộ đạo" thì sao? Thưa rằng, vợ chồng bà Nhung trở thành xã viên hợp tác xã đánh máy và in rô-nê-ô Hai Bà Trưng, chịu sự lãnh đạo hai chiều của phòng văn hóa thông tin Khu Hai Bà và P.21 thuộc Sở công an Hà-nội, đời sống khấm khá. Cô Th. lấy chồng là thiếu tá công an, trưởng phòng quản trị hành chính thuộc Cục Lao Cải (sau đổi tên là Cục quản lý trại giam), dưới quyền thiếu tướng Lê hữu Qua - người chỉ huy công tác bảo vệ phái đoàn Phạm Văn Đồng dự hội nghị Genève 1954 về Việt Nam. Cô em tên là S., đầu năm 1959 được đặc cách cho cùng con gái sang Pháp đoàn tụ với chồng.
 
Còn cô O., lấy chồng là một giáo viên. Tất cả chẳng ai rửa tội theo đạo cả. Chẳng cần suy diễn, chúng ta cũng có thể hiểu họ đã đóng vai gì trong vở kịch của me-sừ Dương Thông đạo diễn.


VẾT DẦU LOANG


Nếu trên mặt báo, tin trục xuất Cha Denis Parkett được xếp ở chỗ "kín đáo" bao nhiêu thì ngoài đời tin ấy lan nhanh trong người dân Hà-nội. "Người ta" kháo nhau là có hoạt động "gián điệp và phản động" trong sinh hoạt tôn giáo. Rồi cũng lại "người ta" xì xầm rằng tạm thời nên tránh đến các nhà thờ, "Chúa ở trong lòng mỗi chúng ta", cứ ở nhà mà cầu kinh cũng được, lúc này biết ai là "giáo ngay" ai là "giáo gian".
 
Ở trường học, tự nhiên các em học sinh cũng bắt đầu nhìn những bạn mình là công giáo bằng "con mắt cảnh giác cách mạng", ở khu phố người ta cũng hay nhòm ngó gia đình giáo dân hơn. Các xứ đạo, các nhà thờ thường xuyên có những bộ mặt lạ lãng vãng đến nhẵn mặt dân trong khu vực, chẳng ai nói với ai nhưng ai cũng biết là "công an mật" đang "làm nhiệm vụ" (?).
 
Cơ quan an ninh của ông Hồ chí Minh cho âm binh đi diễu ngày đêm như vậy cùng với những tin đồn "giật gân" nào là ở nhà thờ X. vừa thấy cờ tam tài, ở nhà thờ Y. thì bắt được lựu đạn v.v... và "kẻ gian" thường lợi dụng những buổi lễ ở nhà thờ để họp mặt với nhau v.v... Và, cũng thời gian ấy, không khí "đấu tranh giai cấp" trong cải cách ruộng đất, trong chống bè lũ Nhân Văn - Giai Phẩm... càng làm mọi người hoang mang, đến nỗi ai nhìn vào nhau cũng thấy "địch", cũng lo "cảnh giác" kẻo bị địch "lợi dụng". Rồi cứ thế, mọi người biến thành "con rùa" lúc nào cũng rụt cổ vào mai cho "chắc ăn". Nhà thờ vắng tanh trong các buổi lễ. Cổng nhà thờ nào cũng có ảnh "bác Hồ" chiếu tướng người qua lại. Ai muốn vào nhà thờ, chợt khựng lại khi thấy ảnh "bác" vì tự nhiên bài học "cảnh giác" phọt ra.


Nhiều năm liền, ngày Nô-en chẳng khác ngày thường. Nhà thờ tuy được mở cửa, nhưng chỉ có trẻ em và các cụ "thật già" ở tuổi gần đất xa trời. Cả Hà-nội chỉ có Nhà Thờ Lớn ở phố Nhà Chung (Nhà Thờ) được chính thức làm lễ Giáng Sinh. Ngay từ chiều ngày lễ, công an nổi, công an chìm lượn lờ suốt quanh đó và quanh Hồ Gươm.
 
Nam nữ thanh niên Hà-nội, không là công giáo, hầu như chẳng một ai qua lại khu vực nào có Nhà Thờ tọa lạc, sợ bị ghi sổ đen, sợ bị chụp ảnh lưu trong hồ sơ của Cục 78 bộ công an. Khá nhiều thanh niên công giáo cũng bỏ lễ sợ bị qui chụp là "mê tín, lạc hậu" và có hại cho con đường học hành, công tác sau này.
 
Có điều hài hước là trên các mặt báo ngày hôm sau, ở trang nhất đều có ảnh lễ Nô-en tại Nhà Thờ Lớn với sự hiện diện của đại diện chính phủ. Nếu chỉ đọc báo, ai chẳng nghĩ rằng vấn đề "tự do tín ngưỡng" dưới chế độ Hồ chí Minh được tôn trọng triệt để. Thật là chỉ có nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Và, những đòn phép "khủng bố công giáo" cứ như vết dầu loang vừa bao trùm rộng về diện vừa nhẹ nhàng về phương pháp hành động đã có nhiều kết quả.


MÁU TƯỚI VÙNG CAO


Ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta chưa bao giờ chính thức đề ra chính sách "tiêu diệt công giáo" ở Việt Nam. Trái lại, về văn bản còn thể hiện là giúp đỡ ổn định sinh hoạt "việc đời việc đạo".
 
Cho nên, nếu tìm hiểu số phận giáo dân Việt Nam trong chế độ Hồ chí Minh qua "sách, báo, và công báo" thì chẳng thấy "vấn đề kỳ thị tôn giáo" nơi chính phủ Hồ chí Minh. Phải gạt sách vở ra một bên mà đi tìm "sự việc" đang diễn ra và đã diễn ra trong xã hội Việt Nam dưới chính quyền cộng sản.
 
Bởi vì cả 4 cuộc cách mạng về cải cách ruộng đất, về văn hóa tư tưởng, về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và về chấn chỉnh tổ chức đều bao hàm nội dung "tận diệt tôn giáo nói chung và công giáo nói riêng." Chính quyền Hồ Chí Minh không giết hoặc bỏ tù "giáo dân" mà giết và bỏ tù "địa chủ, tư sản, phản động" mặc dù có khi người "bị tội" chẳng có một tấc đất, chẳng có một đồng vốn, chẳng làm gì sai chính sách của chính phủ Hồ chí Minh đề ra trên giấy trắng mực đen.
 
Lấy thí dụ tại Hà-nội: các cơ sở của giáo hội bị "ăn cướp" trắng trợn như trường Thánh Mẫu Marie bị lấy làm bệnh viện B để có thể phá bỏ tượng Thánh Mẫu; trường Thánh Paul bị lấy làm bệnh viện tai mũi họng; khu Nhà Chung bị lấy làm câu lạc bộ, và khu nhà các Frères ở đường Cao Bá Quát bị lấy làm viện bảo tàng v.v...
 
Một mặt thu hẹp đi đến thủ tiêu các hoạt động văn hóa, xã hội của Nhà Thờ, mặt khác chính quyền cộngsản dựng ra những tổ chức "Công giáo quốc doanh" như ủy ban liên lạc những người công giáo yêu nước do linh mục quốc doanh Hồ thành Biên cầm đầu, như vậy có hàm nghĩa ai không ở trong tổ chức của Hồ thành Biên là "không yêu nước"(?), như ủy ban liên lạc những người công giáo yêu hòa bình, yêu tổ quốc do con chiên ghẻ là luật sư Dương văn Đàm canh cửa và tờ báo Chính Nghĩa (?).
 
Tất cả đều ăn lương của Mặt trận Tổ quốc - nghĩa là của đảng cộng sản và do cán bộ tôn giáo vận của Mặt trận Tổ quốc giám sát. Nhưng tổ chức "ngụy công giáo" đó chính là bộ phận của cơ quan chuyên chính của chính quyền cộng sản, cho nên tất cả đều đồng lõa với vụ tàn sát hơn một vạn người Việt Nam dân tộc Mèo ở Hà Giang chỉ vì những đồng bào người dân tộc Mèo này bảo vệ các Linh mục và giữ đạo.
 
Sự việc đó xảy ra vào cuối năm 1961, trước khi ông Hồ chí Minh cho lệnh mở đường lên Mèo Vạc với sự giúp đỡ của Trung cộng. Con đường có tên nghe rất kêu là "Hạnh phúc" mà Xuân Diệu hết lời ca ngợi bằng thơ. Để tố cáo trước dư luận và hậu thế, dòng văn nghệ phản kháng cũng ra đời "thơ ghế đá":


"Đứng trên Cổng Trời nhìn về Quản Bạ
Tưởng mình cưỡi gió ngắm trần gian"
Đẹp thay đất nước bạc vàng
Đứng đây sao thấy vô vàn thân thương
Sa-mu san sát bên đường
Cảnh sao hùng vĩ, ngựa giương bờm dài
Đải lầu, vòng bạc, hoa cài
Bản Mèo đứng đó nhìn ai mà buồn
Phải chăng bản nhớ người thương?
Hà Giang, Mèo Vạc máu xương đỏ ngầu
Hồ cộng cùng với Mao Tàu
Giết hơn một vạn kể đâu giống nòi
Mẹ hiền Tổ-quốc đâu rồi?
Dù là thiểu số cũng người Việt Nam
Cũng máu đỏ, cũng da vàng
Búa liềm Hồ cáo bản làng tang thương
Sông Nho Quế máu còn vương
Người Kinh, người Thượng khắc xương ghi lòng
Đoàn kết chống cộng đến cùng
Tội ác Hồ cáo, Lạc Hồng chớ quên!


Ban tuyên huấn trung ương của Tố Hữu và cơ quan an ninh của Dương Thông điên cuồng. Chẳng cần úp mở nữa, nếu người Mèo ở Hà Giang theo Tin Lành thì nhà thờ Tin Lành sẽ là mục tiêu "phỉ báng". Và, thế là Nhà thờ Tin Lành ngay cạnh câu lạc bộ Đoàn Kết, gần nhà Hát Lớn, được lấy làm "trụ sở" cho hợp tác xã Thêu.
 
Các cô, các bà xã viên ngồi từ trong nhà thờ ngồi ra hè... cho vui... bên dưới dòng chữ: “Je suis le chemin, la vérité et la vie”. Con đường đó, khách nước ngoài "bắt buộc" phải qua lại vì nó ngay sau khách sạn quốc tế Thống Nhất (tức Métropole cũ), cái khách sạn này đã có cả từ nhà báo Burchett đến Madelène Riffaud, cho đến nhà thơ nữ Bulgarie, Olga Dimitrova - cô "bồ" cao lớn của Tố Hữu và cả nữ minh-tinh Jane Fonda của Mỹ... tá túc dài dài.


NƯỚC MẮT VÙNG THẤP


Chính quyền cộng sản Hà-nội sợ tiếng nói dân gian đến nỗi "cảnh giác" cả với tay chân. Con trai luật sư Dương văn Đàm chỉ can tội đánh lộn chút chút mà cũng bị công an đến tận nhà xích tay đưa đi cải tạo, trong lúc đó thì con của Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương cộng đảng, cũng như con của trung tướng Nguyễn văn Vịnh, ủy viên trung ương đảng cộng, đều can tội giết người thì được... qua Liên-xô để đào tạo "nhân tài".
 
Đó là cú dằn mặt với cái Hội liên lạc những người công giáo yêu hòa bình, yêu tổ quốc nằm ở góc đường Ngô Quyền - Hai Bà Trưng, ngay cạnh nhà hộ sinh Hoàn Kiếm!


Cái dằn mặt thứ hai là việc bãi chức "không kèn không trống" của chủ tịch huyện Kim Sơn (Ninh Bình) Phạm minh Do, người giáo dân của đất Phát Diệm đã có nhiều công trong kháng chiến chống Pháp và nhiều cống hiến trong phát triển nghề phụ ở Kim Sơn sau 1959.
 
Ông Phạm minh Do muốn đẩy mạnh diện tích trồng cói và nghề nuôi vịt đàn cho giáo dân trong huyện trong lúc Trung ương lại lấy đất của huyện để lập nông trường quân đội mang tên Sao Vàng. Chắc cho đến nay ông Phạm minh Do vẫn chưa hiểu cái thâm ý sâu xa của chính quyền Hồ chí Minh là muốn đặt một đơn vị vũ trang thường trực ở cái đất Phát Diệm, nơi mà mấy cán bộ tôn giáo vận của Mặt Trận Tổ Quốc gọi là "Roma của Việt Nam, Vatican của Đông Dương".
 
Cho nên Kim Sơn tức núi vàng mà dân càng ngày càng kiệt quệ. Tuy nhiên chính quyền cộng sản không thể nào "tiêu diệt" được tiếng chuông Nhà Thờ Phát Diệm. Công an và quân đội chưa có hiệu quả mấy nên Tố Hữu vội góp phần: ông trưởng ty văn hóa Nam Hà được cho ra một tiểu thuyết để "bôi nhọ" giáo dân nhưng không thành công. Nhiều văn nô cũng muốn nhảy vào lĩnh vực này nhưng thấy khó khăn vì thiếu hiểu biết. Chỉ mãi sau này, văn nô Nguyễn Khải - trùm cơ hội - cố nặn ra tiểu thuyết "... Cha và con và..." nhưng chẳng có chút tiếng vang nào. Cùng với thời gian thử thách đức tin, sinh hoạt đạo của giáo dân từ thoái trào lại dần dần lấy lại phong độ như xưa và còn hơn xưa...


NÔ-EN 69 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO


Năm 1968, đúng là năm con khỉ (mậu thân) cho nên cuộc "Tổng tiến công và nổi dậy" do Hà-nội kết thúc cũng khỉ thật. Quân đội của ông Hồ chí Minh vào Nam làm cuộc "tiến công" nhưng vì nhân dân không "nổi dậy" nên cuộc tiến công đó "chìm xuồng" luôn. Tướng Lê Chưởng, người ra lệnh tàn sát tập thể đồng bào ở Huế, có sự chỉ điểm của những tên nằm vùng là tiến sỹ, giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ... được ông Hồ chí Minh gọi ra thưởng cho cái ghế Bộ trưởng bộ giáo dục.
 
Thật may cho học sinh Bắc Việt Nam vì Lê Chưởng trên đường ra Hà-nội bị tai nạn ô-tô vọt óc mà chết. Thương tiếc Lê Chưởng, ông Hồ Chí Minh bèn cho vợ Lê Chưởng là Lê Diệu Muội cái ghế thứ trưởng bộ nội thương mặc dù chưa biết làm tính nhân có số thập phân!!! Chính là từ cái năm 1968 này, các nhà thờ tự nhiên buổi lễ có đông con chiên. Họ đến để cầu nguyện cho con, em, chồng, cha...đã bị "sinh Bắc, tử Nam".
 
Công an nổi, công an chìm đành chịu phép trước "thân nhân" của liệt sỹ. Cái mở đầu của 1968 đã làm cho Noel náo nhiệt hẳn lên. Và, sang năm 1969, năm mà ông Hồ chí Minh đi "thăm Các-Mác và Lê-nin", người Hà-nội sau khi phải cố mà khóc "cho có vẻ có lập trường" thì không còn muốn khóc nữa. Một dạng thức phản kháng có tính lây lan hình thành trong thanh niên học sinh, nhất là ở lứa tuổi phải đi lính.
 
Họ đi hàng hai ba chục người đập phá, la hét, gây chuyện với công an và đánh công an để có phải vì thế bị giam khỏi phải đi lính mà rơi vào cảnh "sinh Bắc, tử Nam". Học sinh miền Nam tập kết đánh nhau với thanh niên địa phương. "Dũng sỹ diệt Mỹ" từ miền Nam được cho ra thăm Hà-nội, thủ đô cách mạng, bị "bụi đời" đập chết ở công viên Thống Nhất.
 
 Dân trốn kinh tế mới về sống lẩn lút ở khu Khâm Thiên (Đống Đa) buôn bán trao tay ở Ga Hàng Cỏ đã tổ chức đánh đồn công an Ga ở phố Lý Thường Kiệt, bắt công an trói lại và lấy phất trần "đánh đít" như đánh con nít. Nhiều chuyện tưởng như "bịa" mà diễn ra đều đặn hàng ngày.
 
Cảnh sát được trang bị nón sắt, chó berger và xe mô-tô có thuyền đi tuần tra cũng chẳng làm gì nổi những thanh niên sắp là "bộ đội cách mạng" ấy cũng như những "chú lính mới" được về phép trước khi đi Nam. Tổ chức đoàn thanh niên, cánh tay mặt của đảng vội đẻ ra một quái thai mới gọi là "Thanh niên cờ đỏ" để góp phần giữ gìn trật tự anh ninh ở các nơi công cộng, nhưng vừa khai sinh thì đã thành trò hề.
 
Bởi lần ra quân đầu tiên của đoàn thanh niên cờ đỏ của Hà-nội là "vồ" được Hoàng Tuấn, tổng cục trưởng tổng cục thông tin; trung tá bác sỹ giám đốc Sở y tế Hà-nội và đặc biệt là cả "đồng chí" Phạm Lợi, bí thư thành đoàn thanh niên Hà-nội kiêm chỉ huy trưởng thanh niên cờ đỏ.
 
Cả ba vị đang có hành động "mèo chuột" với nữ nhân viên cấp dưới trong xó tối ở công viên!!! Thanh niên Hà-nội không còn tin vào "đạo đức sáng ngời" của các "lãnh tụ" nữa, nhất là sau này lại xảy ra vụ "đồng chí" Vũ Quang, bí thư thứ nhất đoàn thanh niên lao động, lãnh đạo đoàn đi thăm ông A-gien-đê của Chilie đã "hủ hóa" với ca sỹ Diệu Thúy (người đã có hôn phu) trên đường ghé qua Cuba và bị mật vụ Cuba "tố cáo". Cả Hà-nội ồn lên về vụ "cướp vợ" này.
 
Ông Trường Chinh ra lệnh các cơ quan đoàn thể họp cải chính cho... Vũ Quang. Và, vài tháng sau cũng chính Trường Chinh ủng hộ việc Vũ Quang cứ cưới đại ca sỹ Diệu Thúy đi, mặc cho ngay cả các con của Vũ Quang phản đối. Thôi làm công tác thanh niên, Vũ Quang về làm chánh văn phòng trung ương đảng rồi còn leo tới chức trưởng ban đối ngoại trung ương đảng (thay Nguyễn thành Lê). Và, cô ca sỹ Diệu Thúy bỏ cái nghề "xướng ca vô loài" để dựa hơi chồng buôn lậu đô-la Mỹ và hạt xoàn!!!
 
Cho nên Noel 1969, người Hà-nội, nhất là thanh niên, nô nức đi lễ Nhà Thờ, chính quyền cộng sản đành bó tay chịu thua. Những năm tiếp theo, trong cái lạnh của tháng cuối trong năm, Hà-nội có các hàng sản xuất "lậu" nhưng lại bán "công khai" tấp nập để phục vụ lễ Giáng Sinh.
 
Cả ngoại thành, nội thành từ bảng lảng chiều đã nô nức kéo về khu vực Nhà Thờ Lớn. Hàng Bài từ đoạn ngã tư với Hai Bà Trưng đã phải cấm xe cộ. Quanh Hồ Gươm người người chen nhau như nêm.
 
Quanh Nhà Thờ Lớn người đứng đông đến nỗi tràn kín cả cổng chính của tòa soạn báo Nhân Dân. Công an và chó berger không dám nghênh ngang vì đã có nhiều chó berger bị đập chết khi đi trong đám đông... không tìm được "thủ phạm". Những tên công an chìm dễ bị ăn đòn "hội chợ" nếu chót lộ đuôi hoặc có cử chỉ thiếu tôn kính với Chúa.
 
Chẳng còn ai sợ ghi sổ đen hay chụp hình lưu trong hồ sơ của Cục 78 bộ công an nữa. Cả Hà-nội chào đón ngày Chúa Giáng Sinh. Cả Hà-nội bảo vệ đức tin của Chúa. Và, Noel lại trở lại là niềm hy vọng của mọi người, mọi nhà.


Tháng 11-1992


Việt Thường

Thursday, December 2, 2021

(CHƯƠNG THỨ NHẤT) FAKE NEW BBC: QUYỂN THỨ 7 "THẾ GIỚI ĐANG ĐỐI MẶT VỚI 'CUỘC TẤN CÔNG LỚN NHẤT VÀO SỰ THẬT' KỂ TỪ NHỮNG NĂM 1930

 Nhan đề quyển sách là câu cảnh báo của Tổng Giám Đốc Đài BBC  Lord Tony Hall, tại Hội Nghị Toàn Cầu Về Tự Do Truyền Thông ở London từ ngày 10 đến ngày 11 tháng 7, 2019.



 

Trong Hội Nghị hai hãng truyền thông của Nga là RT và Sputnik đã bị Nước Anh trục xuất,  tống khứ ra ngoài và không đồng ý chấp thuận cấp thẻ tham dự, bởi vì  theo  Bộ Ngoại Giao Anh cho biết: Hai hãng truyền thông đó  đã đóng “vai trò tích cực trong việc cố tình truyền bá thông tin SAI” (sic).

 

Sau khi đọc xong bài này một cách có trách nhiệm theo tinh thần Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm do Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng thống dân cử đầu tiên của Việt Nam nói chung (hay còn gọi là Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà).  Vì thế nên tôi, Chính Khí Việt chủ trang website Chính Khí Việt Net đã quyết định trao đổi với Nhà Báo Lão Thành Việt Thường, mà tôi đã  khẳng định nhiều lần Ông Việt Thường là người Thày của tôi. Người đã cung cấp cho tôi rất nhiều chuyện thâm cung bí sử của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng,,,, nói riêng và tập đoàn Việt Gian Cộng Sản từ những thập niên 1930 cho tới ngày hôm nay ngày 01/11/ 2022 nói chung!

 

Sau nhiều ngày suy nghĩ, chúng tôi đã đi đến kết luận: chúng tôi phải tích cực ủng hộ quan điểm của Lord Tony Hall mà chúng tôi sẽ gởi đến cá nhân Lord Tony Hall và Ban Tiếng Việt đài BBC, những ý kiến về cách làm việc của những người gọi là “phóng viên”  do  BBC thuê mướn!!!

 

 


 

CHƯƠNG I:

 

                   Sophie Quinn-Judge: Hồ Chí Minh và những năm chưa biết

 


Trong phần I này, chúng tôi xin đượsử dụng ngay những tài liệu trích từ BBC - Tiếng Việt đã đăng gần đây nhất.  Bài đó có tên: "Sophie Quinn-Judge: Hồ Chí Minh và những năm chưa biết" đăng ngày 7 tháng 7, 2019.  (https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-48829610)

 

Tiến sĩ Sophie Quinn Jugde,  Đại Học LSE, London, đã viết cuốn sách có tên “Hồ Chí Minh: Những năm chưa biết đến” (Hồ Chí Minh: The Missing Years 1919-1941).  Trong quyển này được giới thiệu phần tài liệu mà Tiến sĩ Sophie Quinn Judge viết ra phần nhận xét của  “Chủ Yếu dựa trên tư liệu về Quốc Tế Cộng Sản được giải mật năm 1992 của Trung Tâm lưu trữ Quốc Gia Nga – Và tư liệu từ kho lưu trữ Quốc Gia Pháp.” (sic)

 

Tác giả còn được giới thiệu là đã: “Tập trung vào những năm hoạt động của ông Hồ Chí Minh thời kỳ trước 1945,  cuốn sách cố gắng DỰNG LẠI CHÂN DUNG CŨNG NHƯ VỊ TRÍ THẬT SỰ của ông Hồ trong thời kỳ này”. (sic)

 

Đọc xong bài báo đã được BBC Tiếng Việt phỏng vấn từ 2003, nhưng đến tháng 7 năm 2019 đã được BBC đăng trở lại!!! Chúng tôi đã biết lý do tại sao?  Nguyên nhân đơn giản là Ban Tiếng Việt đài BBC  đã nhận thấy việc đăng lại lần này vào thời điểm của cái gọi là “Hiệp Định Thành Đô” với Tàu chỉ còn nửa năm nữa là kếthúc!!! Đồng thời việc lôi Hồ ra khỏi lăng để cho mọi người được ngắm lại chân dung hắn trong chính đôi mắt của bà Sophie Quinn Judge mà chúng tôi KHẲNG ĐỊNH bà Sophie Quinn Judge là một người có tài năng TẤN CÔNG VÀO SỰ THẬT một cách trơ trẽn và bài bản nhất!!!  Vì nội dung những câu trả lời phỏng vấn với BBC của bà đã cho mọi người, nếu  đã từng đọc qua sẽ thấy ngay việc tác giả ĐANG BÀO CHỮA một cách khéo léo BẢN CHẤT VIỆT GIAN, LƯU MANH CHÍNH TRỊ, SÁT NHÂN KHÔNG CHỚP MẮT ngay chính cả những “đồng chí” của mình và đặc biệt là NHÂN DÂN  Việt Nam bao gồm mọi thành phần dân tộc trong câu khẩu hiệu “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO, ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ”! của Hồ Chí Minh!!!

 

 Trích nguyên văn đoạn trả lời phỏng vấn của tác giả Sophie Quinn Judge với BBC:

 

“Sophie Quinn-Judge: Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hy vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ.

 

Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông   là Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911.” (sic)

 

Riêng đoạn này, tác giả đã tự lột mặt mình:

 

1-    Cha của Hồ không phải là QUAN CẤP TỈNH trong chế độ Pháp (đúng ra phải nói rõ là Pháp Thực Dân). Cha của Hồ là một tên khát máu sát nhân, nghiện rượu rất nặng cho nên mỗi lần say sỉn, Cha của Hồ đánh vợ đánh con một cách rất tàn nhẫn. Hắn chỉ là một tên quan miền núi của Tỉnh Bình Định, trong lúc say rượu đã tự tay đánh chết một nông dân nên đã bị Thực Dân Pháp lúc đó cách chức đuổi về vườn. Hoàn toàn không phải là bị THẤT SỦNG.  Bởi vì nội dung của thất sủng vẫn có thể giữ lại làm quan, có thể bị khiển trách và giáng cấp.

 

2-    Tác giả  còn đề cập đến việc cha của Hồ là Nguyễn Sinh Huy bị MIỄN NHIỆM (???) Vì thế -theo quan điểm của tác giả  Sophie- Hồ Chí Minh buộc phải thôi học ở Trường Quốc Học Huế VÀ “TRỞ THÀNH THÀY GIÁO Ở PHAN THIẾT. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết ông đi pháp năm 1911” (sic)

 

Trong phần này tác giả đã đưa một tin lấy từ sự tô hồng bôi đen thất thiệt của cộng sản Việt Nam. Nếu là người tôn trọng sự thật thì tác giả buộc phải ghi rõ Hồ dạy học tại Phan Thiết lấy từ nguồn tin nào, ở đâu? Chưa hết, tác giả còn mơ hồ dùng nhóm chữ “NHƯ MỌI NGƯỜI ĐỀU BIẾT” (sic).  Vậy mọi người ở đây là ai, thành phần nào, số lượng MỌI NGƯỜI là bao nhiêu để đến nỗi  quên bẵng đi chuyện tên bồi tàu, mạo danh là BA, quỵ luỵ nộp đơn xin học Trường Thuộc Địa!!!

 

 3-    Xin trích nguyên văn một đoạn khác:

 

“BBC:Bà ngụ ý là ban đầu ông Hồ ra nước ngoài không phải với mục đích tìm đường cứu nước?

 

Không, ý tôi không phải là như thế. Dựa trên tài liệu của Pháp nói về các anh chị trong gia đình ông Hồ và những lần họ giúp đỡ cho Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm.

 

Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác. Nhưng bởi vì ông không thể ở lại trường Quốc học, nên ông ra nước ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người Pháp.” (sic)

 

Khi viết, tác giả Sophie Quinn Judge đã không nói đầy đủ về chuyện gia đình Hồ đã giúp đỡ cho Phan Bội Châu như thế nào, mà chỉ dựa vào việc: “TÔI NGHĨ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm” (sic).

 

Khi bạo phổi to gan thốt ra hay hạ bút viết: “TÔI NGHĨ  gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm” (sic) thì tài  liệu tác giả trưng dẫn trong phầnhận xét có gì là khách quan!!!

 

Ở những năm 2003, Sophie Quinn Judge mới trả lời cuộc phỏng vấn này của BBC, vậy xin hỏi tác giả có biết chuyện Cụ Phan Bội Châu đã bị tên Hồ Chí Minh hợp tác với tên Nguyên Công Viễn aka Lâm Đức Thụ giăng bẫy BÁN CỤ PHAN BỘI CHÂU cho mật thám thực dân Pháp lấy $10,000 (Quan Pháp). Hai tên này  Hồ và Lâm  đã chia nhau sử dụng  số tiền đó cho  mục tiêu cá nhân của chúng.  Một việc hệ trọng như vậy, vì khi Cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt, tại Việt Nam đã nổ ra các cuộc đình công khiến biết bao thành phần người Việt Nam bao gồm Học sinh, Sinh viên, Trí thức, Tiểu thương, Nông dân, Công nhân bị thực dân Pháp bỏ tù, lưu đày, phát vãng… Vậy mà không có tài liệu cụ thể để chứng minh tội việt gian đó của Hồ Chí Minh và Nguyễn Công Viễn aka Lâm Đức Thụ!!! Sophie còn bạo gan bạo phổi đến mức dám bịa ra bằng 1 câu nói rất mơ hồ là  “TÔI NGHĨ”.

 

Viết như thế có nghĩa là  HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ TÀI LIỆU CỤ THỂ NÀO CẢ mà chỉ là CẢM TÍNH CÁ NHÂN với gia đình Hồ để rồi từ đó bà liều mạng tưởng tượng  ra!!!

 

 Ngay câu trên, tác giả nói “TÔI NGHĨ” thì đoạn tiếp theo bà lại dùng cụm chữ “TÔI TIN” là “ông Hồ Chí Mính cũng sẽ tham vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác. Nhưng bởi vì ông không thể ở lại trường Quốc học, nên ông ra nước ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người Pháp.” (sic)  Nghĩa là TÁC GIẢ viết theo óc tưởng tượng kiểu Harry Potter.  Thật là quá đáng, nhất là quá đáng với nhân dân Việt Nam cần nhận chân được mọi sự thật lịch sử bởi TÁC GIẢ  không có lòng tự trọng đối với chính ngòi bút của mình!!!

 

 Chúng tôi mới chỉ  khai mào trích dẫn vài thí dụ bài trả lời phỏng vấn của Tiến sĩ Sophie Quinn Judge (kể từ đây, xin được phép viết tắt là TS SDJ- CKV) với Ban Tiếng Việt Đài BBC.

 

Nếu chú ý, quý bạn đọc sẽ thấy ý đồ không lành mạnh của TS SDJ.

 

Xin chứng minh thêm bằng những thí dụ rất cụ thể:

 

Chú Ý 1:  Khi viết về một nhân vật lịch sử có thật, dù khen hay chê bắt buộc phải  dẫn chứng bằng những việc có thật và khi kết luận phải dứt khoát, rõ ràng.  Còn viết theo kiểu của TS SQJ  “TÔI NGHĨ – TÔI TIN” nhưng không đưa ra bằng chứng, nhân chứng cụ thể thì không ai có thể chấp nhận được.

 

Thí dụ: Một phiên toà nào đó xét xử một tên ăn cướp giết người với các bằng  chứng, vật chứng, nhân chứng… cụ thể đầy đủ.  Thế nhưng quan toà (JUDGE) lại đưa ra phán quyết THA BỔNG với ý kiến cá nhân của mình rằng: “TÔI NGHĨ – TÔI TIN” rằng: “BỊ CAN VÔ TỘI” thì  quý bạn đọc có nhận xét thế nào về VIÊN QUAN TOÀ NÀY???

 

 

Chú Ý 2:  Trong phần chúng tôi sắp trích dẫn nguyên văn các câu trả lời của TS SQJ với Ban Việt Ngữ đài BBC dưới  đây với những nhận xét riêng để quý bạn đọc thấy rằng TS SQJ là người như thế nào.

 

Trích nguyên văn:

 

“Sophie Quinn-Judge: Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hy vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ.

 

Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông là Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911.

 

Nếu cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đã ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài.” (sic)

 

Chú Ý 3: Khi TS SDJ khẳng định “Chúng ta không biết chắc” (sic) mà lại dám viết rằng: “nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài” (sic)  Vậy xin hỏi TS SDJ “những hoàn cảnh bên ngoài” (sic) là những hoàn cảnh nào?  Cho một thí dụ cụ thể xem đồng thời  cho biết lý do nào và  tại sao “những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông ta phải ra nước ngoài”?

 

Chúng tôi xin hỏi TS SQJ: Tại sao ông ta không về quê ở Nghệ An, hoặc chuyển đổi chỗ ở tại một địa phương nào đó ở Việt Nam???

 

Chúng tôi KHẲNG ĐỊNH đây là sự mở đầu cho việc ĐÁNH BÓNG – TÔ HỒNG họ Hồ vì lúc đó mới chỉ là năm 1911.  Hồ Chí Minh còn chưa được ai biết đến và lúc đó cũng chưa có ai, hoặc cá nhân, hoặc tổ chức yêu nước nào nhận Hồ là người của tổ chức mình hay cùng lắm nhận hắn như một cảm tình viên của tổ chức!

 

Nếu Hồ đã nổi tiếng vì “lòng yêu nước” (?) thì làm sao hắn lại ngang nhiên sử dụng giấy tờ giả để xuống tàu buôn của thực dân Pháp làm bồi tàu và qua Pháp một cách an toàn???


 Đặc biệt là vừa tới cảng Marseille Hồ đã viết thư ngay cho Bộ Thuộc Địa Pháp VỚI 2 NỘI DUNG CHÍNH LÀ:

 Thư ngày 15-9-1911 của Nguyễn Tất Thành | Nguyễn Tất Thành v… | Flickr

1.    Xin thực dân Pháp trợ cấp hoặc tìm việc làm cho bố đẻ của hắn là một tên nát rượu giết người vô tội!!! Đúng là phải có công lao gì cũ hoặc mới với thực dân Pháp thì hắn mới dám làm việc đó (tức đòi nợ thực dân Pháp-CKV).

 

2.    Hồ xin được đi học tiếp để “PHỤC VỤ MẪU QUỐC PHÁP” một cách tốt hơn!!!

 

Chú Ý 4: Hai nội dung trong lá thư của Hồ có làm cho TS SQJ thắc mắc? Đang là kẻ phạm pháp đối với thực dân Pháp, tức người yêu nước chống Thực Dân Pháp mà lại viết thư cho thực dân Pháp thì chẳng hoá ra việc Hồ qua Pháp hoàn toàn là CÔNG KHAI vì hắn có một nhiệm vụ gì đó mà thực dân Pháp cần Hồ tham gia!!!

 

Việc Hồ CÔNG KHAI ĐÒI HỎI quyền lợi vật chất cho cha của Hồ, bị thực dân Pháp khước từ. Về mặt nổi chúng ta thấy như vậy, nhưng có một điều khiến chúng ta phải nghĩ đến những SỰ THẬT của mặt chìm. Bởi theo Hồ thì cha của hắn đã cùng đường nên phải ngồi lê ở chợ Bến Thành bói toán kiếm ăn. Với một tên nát rượu thì bao nhiêu tiền cho đủ, vậy mà nó phải bỏ nơi thị tứ chợ Bến Thành, một nơi có đông khách qua lại xuống vùng Đồng Tháp hoang vắng để có tiền  mua đất lập nghiệp lấy vợ. Điều TS SQJ cần phải tự hỏi là khi di chuyển chỗ ở và cuộc sống phong lưu có gì liên quan tới con đường có thể dễ dàng và gần nhất để liên lạc với các tù nhân chính trị bị giam cầm ở Côn Đảo???

 

Và có một bật mí khiến chúng ta phải nghi ngờ  đặt dấu hỏi rằng cha con Hồ việt gian có phải là chỉ điểm của mật thám Pháp? Cha Hồ đã lợi dụng bạn đồng khoa với Cụ Phan Bội Châu nên dù còn rất nghèo khổ “mà cũng giúp đỡ Cụ Phan Bội Châu” và sau đó hắn được đưa ra Huế làm quan với một câu chuyện giả tưởng trong vụ quan hệ bất chính giữa dòng họ Hồ Sĩ Tạo với dòng họ Nguyễn Sinh, cho nên chính họ Hồ Sĩ Tạo, dòng họ của một Tứ Trụ triều đình Nhà Nguyễn thời điểm đó tiến cử! Câu chuyện này cần phải để ý vì nó được phát hiện và có bút tích bài viết hẳn hoi cũng như được đưa ra tuyên truyền, công khai bởi sử nô Trần Quốc Vượng.  Vì Bác ruột của sử nô Trần Quốc Vượng là Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện thời gọi là Đệ Nhị Cộng Hoà, Trần Thúc Linh, một tên  trí thức nằm vùng trong Nam của VGCS.

 

Sự kiện này có nhiều xác xuất về sự thật rằng Nguyễn Sinh Huy aka Nguyễn Sinh Sắc đã thông báo khéo rằng Hồ Chí Minh không phải là con ruột  của hắn cho nên hắn mới đặt cho cái tên là NGUYỄN SINH COÔNG. Sau này bạn bè hắn khuyên bảo nên hắn mới đẻ ra cái tên mới cho Hồ là Nguyễn Tất Thành!

 

Chú Ý 5: TS SQJ đã vô tình hay cố ý bỏ sót nhiều chuyện trong giai đoạn đầu khi Hồ mới đặt chân tới Pháp, nghĩa là từ 1911 cho đến 1923. Trong đó có những việc bởi theo chúng tôi  nó rất quan trọng, đó là:

 

1.    Trong lá thư của Hồ gởi cho Bộ Thuộc Địa thực dân Pháp khi vừa tới Marseille (1911), nếu chú ý chúng ta lại thấy một điều khác nữa là nét chữ viết của Hồ trong lá thư đó có nhiều điều mờ ám. Nét chữ trong lá thư hoàn toàn không giống nét chữ của những thư, sách, truyện, chỉ thị… của Hồ trong suốt một thời gian dài cho đến khi hắn chết (1-9-1969). Nếu ai còn nghi ngờ xin cứ thử khảo sát xem có bút tích nào của Hồ giống bút tích của lá thư được viết năm 1911.

 

2.    Vậy chúng ta lại phải đặt câu hỏi ai đã tung bức thư này ra công khai ngoài quẩn chúng.  Nhờ đó mà các nhà trí thức ở Pháp lúc bấy giờ là Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền… đã cảm động vì thấy hoàn cảnh éo le của con một vị khoa bảng, đồng khoá với cụ Phan Bội Châu.  Thế là, vì quá nặng về tình cảm quen biết nên đã đưa Hồ về nhập bọn.  Các vị đã dạy Hồ từ những nghề như nhiếp ảnh, làm báo, cho đến chính trị.  Các vị còn đưa Hồ đến những nơi hội thảo về chính trị để học hỏi và trau dồi thêm việc nghe, học tiếng Pháp. Hơn nữa các vị còn cho phép Hồ được đứng chung cái tên NGUYỄN ÁI QUỐC và cuối cùng thì tên Hồ đại việt gian này đã CƯỚP LUÔN cái tên NGUYỄN ÁI QUỐC từ đó cho đến nay!!!

 

3.    Các vị cũng dìu dắt cho tên Hồ gia nhập Đảng Xã Hội Pháp.  Đến khi tranh luận về “Cương Lĩnh Chính Trị” của Quốc tế Cộng sản 3 thì Hồ mới đi theo phía Cộng Sản Pháp được tách ra từ Đảng Xã Hội Pháp để từ đó hắn đi theo “CHỦ NGHĨA THỰC DÂN ĐỎ NGA XÔ LENINIST”.  Cũng chính từ đó Hồ mới được Đảng Cộng Sản Pháp giới thiệu và giúp đỡ sang Nga vào cuốn năm 1923. Hồ được cử đi vì hắn có ưu thế là một người Việt Nam, tức một người dân ở xứ thuộc địa tại vùng Đông Nam Á.

 

4.    Trở lại việc lá thư, hiển nhiên không cần phải suy nghĩ nhiều cũng biết kẻ công khai đưa lá thư đó ra ngoài chính là MẬT VỤ PHÁP.

 

Chúng tôi cam đoan như vậy KHÔNG PHẢI  là vấn đề TÔI NGHĨ hay TÔI TIN như TS SQJ. Bởi vì chúng tôi có tài liệu liên hoàn của chính bà tiến sĩ:

 

-         Việc Hồ đi bằng giấy tờ giả sang Pháp mà  lúc đó Cha Con Hồ đã nhận lời làm chỉ điểm cho Mật Thám Pháp.  Điều kiện để hai cha con chấp nhận làm chỉ điểm chính là việc Nguyễn Sinh Huy aka Nguyễn Sinh Sắc sẽ được giúp đỡ về vật chất và cao nhất là còn có thể được “hồi nhiệm”.  Riêng cá nhân Hồ thì sẽ được học ở trường Bộ Thuộc Địa bên Pháp và con đường hoạn lộ từ đó sẽ thênh thang rộng mở!!!

 

Cho nên chính bà TS SQJ đã giúp chúng ta biết được sự việc đó qua câu trả lời của bà với BBC – Ban Tiếng Việt: “NHƯNG NHỮNG HOÀN CẢNH BÊN NGOÀI ĐÃ BUỘC ÔNG PHẢI RA NƯỚC NGOÀI” (sic).

 

Chú Ý 6:  Còn một vấn đề khác nữa mà chúng tôi cần hỏi bà TS SQJ là bà có biết việc Hồ Chí Minh có bồ và con gái riêng ở Pháp không?  Chúng tôi đưa chuyện này ra để chúng minh rằng bà có thói quen che dấu những việc xấu xa bẩn thỉu đê tiện của Hồ.

 

Chuyện trai gái, con rơi không phải là vấn đề lớn nhưng chúng tôi nêu ra đây  vì MUỐN CHỨNG MINH bản thân Hồ là một tên độc tài, khát máu.

 

Trong thời gian từ 1911 đến cuối năm 1923, Hồ đã có một cuộc tình GIÀ NHÂN NGÃI NON VỢ CHỒNG để có với cô ta một cô con gái tên là Louise Darguieres. Bởi vì cô bồ của Hồ là  người thợ làm bánh mì. Cho nên, như Hồ trong tự truyện đã viết rằng, mỗi sáng trước khi đi làm Hồ lấy một hòn gạch cho vào nung trong lò nướng bánh mì; chiều tối đi làm về, lấy hòn gạch ra rồi bọc trong tờ giấy báo để ôm ngủ vì thời tiết quá lạnh. Bà TS SQJ thử nghĩ xem, một việc cỏn con đó mà trong suốt bao nhiêu năm trời Hồ vẫn tiếp tục bảo lưu ý kiến NÓI LÁO của mình.  Nếu đúng là sự thật như tự truyện để ôm hòn gạch đó ngủ thì không bao giờ Hồ còn có thể làm việt gian hay chỉ điểm được nữa vì toàn thân hắn đã biến thành đống than tro.

 

Cuối 1923 hắn được Đảng Cộng Sản Pháp giới thiệu qua Nga và kể từ đó hắn quất ngựa truy phong cho đến tận tháng 5-1969, trước khi bị lôi cổ xuống hoả ngục hắn đã xin với Tổng Thống  Pompidou, Cộng Hoà Pháp để tìm kiếm đứa con gái và đưa đứa con gái rơi của hắn sang Việt Nam cho hắn gặp mặt lần cuối. Ngạc nhiên nhất là việc ông Tổng Thống Pháp Pompidou đã thi hành yêu cầu của họ Hồ một cách rất nhanh nhẩu!!!

 

Cuối những ngày Hồ sắp sửa bị lôi cổ  xuống Hoả Ngục, hai cha con họ Hồ đi dạo ở vườn hoa ngay trước cổng chính của cái gọi là Phủ Chủ Tịch! Và mật thám  ngoại quốc đã chụp được một tấm ảnh của hai cha con hắn tung ra công chúng!!!

 

Việc làm này của Hồ là lợi dụng lũ gọi là an ninh ngoại quốc để nâng bi Hồ là một người Cha tốt, chỉ vì “việc nước, việc đảng” nên không thể  chăm sóc  được con của mình. Cho nên trước khi chết, hắn đưa Louise về ở chung.  Đấy cũng là tín hiệu Hồ đưa ra cho những tên đàn em thân cận phải cố sắp xếp một tương lai thật huy hoàng cho đứa con rơi của hắn là Nông Đức Mạnh, một tên có bộ mặt vừa vô duyên vừa khờ khạo, vì thế nó đã được lôi lên làm Tổng Bí Thư của Đảng Việt Gian Cộng Sản!

 

Một câu hỏi khác lại được đặt ra là tại sao  từ Hà Nội đi Hải Phòng nào có xa xôi gì (dài 80km-CKV) thế mà Hồ không hề đả động tới đứa con rơi khác, nó chính là đứa con của Hồ với Nguyễn Thị Minh Khai, được mẹ nó đặt tên là Hồng Minh, từ Nam tập kết năm 1954 rồi được đưa về học tại Trường dành cho con em người Miền Nam tập kết ở Hải Phòng.

 

Sau 1975, Hồng Minh vào công tác tại Saigon cư ngụ trên đường Pasteur, sát với Tổng công ty phát hành phim, một cơ sở kinh tài riêng cho tên đại việt gian Trần Bạch Đằng. Cuối năm 1987,  Hồng Minh mới được các tờ báo Tiền Phong, Thanh Niên nêu lên và yêu cầu cá nhân cũng như nguỵ quyền cộng sản Saigon (tức Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố Saigon-CKV) PHẢI CÓ TRÁCH NHIỆM với con gái của Hồ và Nguyễn Thị Minh Khai là  Hồng Minh.

 

Đấy chính là lý do tại sao Hồ phải dấu kín sự việc này, bởi hắn có liên quan tới cái chết của Nguyễn Thị Minh Khai và một số nhân vật lãnh đạo chóp bu khác của tổ chức việt gian cộng sản. Đó là việc hắn ta liên lạc với Ngô Đức Trì, thường vụ trung ương VGCS, được Nga Xô cử theo Trần Phú về Việt Nam để ra mắt cái gọi là Đảng Cộng Sản Việt Nam.  Vì thế Hồ đã bán Ngô Đức Trì cho mật thám Pháp. Sự việc xảy ra đột ngột nên Ngô Đức Trì đã bán hết các cán bộ cộng sản với tên tuổi và địa chỉ đầy đủ, từ Trần Phú trở xuống…. trong đó có Nguyễn Thị Minh Khai cũng chịu chung một số phận.  Ngay cả tên Lê Hồng Phong, mặc dù chính thức là hôn phu của Nguyễn Thị Minh Khai nhưng trong thời gian Lê Hồng Phong đi Nga Xô trước để dự một cuộc họp Quốc Tế Cộng Sản 3, Nguyễn Thị Minh Khai được Nga Xô điều sang văn phòng của Hồ ở Tàu, để Hồ hướng dẫn qua một chút chính trị và một số những câu tiếng Nga thông thường trong sinh hoạt. Hồ đã lợi dụng cơ hội này làm cho Nguyễn Thị Minh Khai có bầu.  Khi gặp Lê Hồng Phong ở Nga  Nguyễn Thị Minh Khai không dám nói lên sự thật này cho nên phải dùng hạ sách bằng cách khai lý lịch của chồng tên là “LINE” (tên tiếng Nga của họ Hồ -CKV). Trước sự việc rắc rối đó, Nga Xô đã giải quyết bằng cách xác nhận Nguyễn Thị Minh Khai và Hồ là vợ chồng hợp pháp! Lê Hồng Phong đành phải nuốt hận công nhận cách giải quyết của Nga Xô. Vì sự ngoan ngoãn vâng lời đó của Lê Hồng Phong nên hắn đã được Nga Xô ban cho vinh dự làm người Việt Nam đầu tiên và duy nhất là Uỷ Viên Dự Khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương Quốc Tế Cộng Sản 3!

 

Khi Trần Phú bị mật thám thực dân Pháp bắt giết, Nga Xô đã chỉ định Lê Hồng Phong về làm Tổng Bí Thư Đảng việt gian cộng sản.  Còn Nguyễn Thị Minh Khai thì được chỉ định làm Bí Thư Thành Uỷ VGCS ở Saigon.

 

Tội ác của tên Hồ Chí Minh là như vậy đấy. Chỉ tiếc rằng TS SQJ đã cố tình che dấu những sự thật này khi trả lời phỏng vấn BBC- Ban Tiếng Việt?

 

Chú Ý 7:  Chúng tôi xin trích nguyên văn phần  tiếp theo khác trong trả lời phỏng vấn của TS SQJ với BBC Ban Tiếng Việt như sau:

 

Trích nguyên văn:

 

BBC:Sau hội nghị ở Paris, ông Hồ đến Nga năm 1923 rồi sau đó đi Quảng Đông. Trong khoảng thời gian này, vị trí của ông Hồ trong Quốc tế Cộng sản như thế nào,bởi vì một số tác giả cho rằng lúc này ông Hồ đã được Quốc tế Cộng sản chú ý nhiều?

 

 Đầu tiên, ông Hồ lúc đó không phải là thành viên của một đảng cộng sản châu Á nào. Ông ấy đang là thành viên của đảng cộng sản Pháp. Vì thế, ông chưa có vị trí vững chắc trong nội bộ Quốc tế Cộng sản. Ví dụ, ông không có chân trong ban chấp hành. Có nhiều nhân vật khác quan trọng hơn như Mahendra Roy từ Ấn Độ hay Sen Katayama của Nhật.

 

Nhưng Nguyễn Ái Quốc có một thông điệp rất rõ về việc phong trào cộng sản có thể tham gia thế nào trong phong trào quốc gia tại các thuộc địa. Tôi nghĩ bởi vì thông điệp này nên ông ấy được khuyến khích lên phát biểu tại đại hội lần thứ năm của Quốc tế Cộng sản năm 1924. Nhưng lúc ấy, theo tôi, ông Hồ chưa phải là người phát ngôn hàng đầu về các vấn đề thuộc địa trong Quốc tế Cộng sản.

 

Việc ông Hồ là thành viên đảng Cộng sản Pháp cũng có thể đã khiến vị trí của ông trở nên phức tạp. Trotsky - đối thủ chính trị của Stalin thời bấy giờ - có một ảnh hưởng đáng kể đối với những người cộng sản Pháp. Trong một bãi mìn chính trị như vậy, ông Hồ dường như bắt đầu học cách hợp tác với bất kỳ ai đang nắm quyền lực và học cách theo đuổi những quan tâm của riêng mình.

 

BBC:Một số tác giả như Jean Lacouture nói rằng ông Hồ được gửi tới Quảng Đông để làm trợ lý hay thư ký cho Mikhail Borodin?

 

Tôi nghĩ điều này không chính xác, bởi vì ông Hồ lúc đó từ Nga đi Quảng Đông mà không mang theo một hướng dẫn rõ ràng về những gì ông sẽ làm tại đó. Ban đầu ông ấy không được cho một vai trò chính thức. Có vẻ như người ta đã tìm cho ông công việc làm người dịch thuật tại hãng tin của Nga tại đó để có tiền thực hiện các hoạt động chính trị của ông.

 

Chứ còn lúc mới đến Quảng Đông, ông Hồ rất vất vả trong việc có đủ tiền giúp cho việc giúp đưa các thanh niên Việt Nam sang Quảng ̣Đông tham gia các khóa đào luyện. Như vậy, không có một kế hoạch, chỉ thị rõ ràng dành cho ông Hồ và ông phải tự bươn chải, đối phó với các vấn đề khi chúng diễn ra.” (hết trích)

 

 Chú Ý 8: Lại một trò đánh tráo sự thật rất ấu trĩ của TS SQJ. Bà nói rằng: “ông Hồ lúc đó từ Nga đi Quảng Đông mà không mang theo một hướng dẫn rõ ràng về những gì ông sẽ làm tại đó” (sic).

 

Nếu không được sự hướng dẫn thì tại sao không tìm cho Hồ một việc làm ở ngay Nga Xô mà lại rắc rối cho Hồ sang tận Quảng Đông để làm việc cho hãng tin của Nga.  Bà TS SQJ khẳng định cụ thể nhưng hơi ngớ ngẩn. Hồ là cái gì mà Nga phải lo tìm việc cho Hồ trong hãng tin của Nga tại Quảng Đông “ĐỂ CÓ TIỀN THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ!!!” ở đây điều ấu trĩ của bà TS là có thể tin được rằng Nga giúp cho Hồ “ĐỂ CÓ TIỀN THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG (tức Hồ, là thực hiện các hoạt động chính trị CỦA NGA XÔ TẠI QUẢNG ĐÔNG), nghĩa là một cứ điểm tại Đông Nam Á  rất thuận tiện cho việc tổ chức ra cái công cụ gọi là Đảng Cộng Sản Việt Nam để bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ Nga Xô Leninist. Đồng thời Hồ còn có nhiệm vụ để thâm nhập, lèo lái những tổ chức chống thực dân Pháp của những người Việt Nam yêu nước theo xu hướng Quốc Gia không cộng sản. Cho nên ngay từ 1925, nghĩa là khi Nga Xô phái Hồ xuống Quảng Đông chưa đầy nửa năm thì hắn đã lập được thành tích lớn bằng việc cộng tác với tên chỉ điểm của thực dân Pháp là Nguyễn Công Viễn aka Lâm Đức Thụ để bán cụ Phan và phá nát tổ chức của Cụ Phan, đồng thời Hồ đã biến cái tổ chức đó không còn theo xu hướng Quốc Gia nữa để trở thành một thứ Chủ Nghĩa Thực Dân Đỏ Nga Xô Leninist.  Việc đó mau chóng thành công vì Hồ cũng như tên Lâm Đức Thụ đã tìm cách khống chế được một chiến hữu thân cận của Cụ Phan Bội Châu, LÀ HỒ TÙNG MẬU. Vì thế đã có một số thanh niên yêu nước đi qua Quảng Đông là cốt sang để theo Cụ Phan Bội Châu nhưng không ngờ lại bị lọt vào ổ điếm cộng sản với lũ chủ động gồm những kẻ cầm đầu là bộ Ba: Hồ Tùng Mậu, Hồ Chí Minh, Lâm Đức Thụ. Những thanh niên yêu nước có xu  hướng Quốc Gia đó đã bị ba thằng điếm nói trên đưa qua Nga để bonshevick hoá họ thành công cụ bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ Nga Xô Leninist tại Đông Nam Á, đặc biệt là ba nước ở Đông Dương.

 

Riêng số phận tên phản bội Hồ Tùng Mậu đã được ban cho cái bánh vẽ là Uỷ Viên Dự Khuyết Trung Ương ở vào thời điểm chúng chưa nắm được bộ máy nhà nước Việt Nam.  Cuộc chiến chống thực dân Pháp bùng nổ vào tháng 12-1946, tên phản bội Hồ Tùng Mậu đã bị Hồ Chí Minh cho thủ tiêu để bịt mối các việc tồi tệ khác.  Hắn đã cử Hồ Tùng Mậu đi công tác với vài tên bảo vệ trong đó có tên là Mai Đen.  Sau khi Hồ Tùng Mậu bị hạ sát, Mai Đen đã bỏ trốn vào Hà Nội.  Khi trả lời xét hỏi Mai Đen đã được thả và còn được gắn lon Đại Uý, trở thành một đệ tử thân cận của cụ Nguyễn Văn Hướng, Giám đốc Nha Cảnh Sát Bắc Phần, thời Nguyễn Hữu Chí làm Thủ Hiến Bắc Việt. Cụ Hướng cũng là thân sinh của Tướng Hiếu và cũng là chủ tịch Liên Minh Quốc Hội của ASIAN.  Sau 1975 Cụ Hướng cũng bị VGCS bỏ tù tại nhà tù Z30D Hàm Tân, Thuận Hải.

 

Chú Ý 9: Ở phần trên, chúng tôi đã dựa vào bài trả lời phỏng vấn của bà TS SQJ với Ban Tiếng Việt Đài BBC để chứng minh cho thấy sự mâu thuẫn của bà trong việc cung cấp tài liệu và nhận định tài liệu với bạn đọc.  Chúng tôi khẳng định rằng sự mâu thuẫn đó của bà TS SQJ chủ yếu thiên về việc chạy tội cho tên Việt Gian Hồ Chí Minh và cái Đảng Cộng Sản của hắn.

 

Trong bài trả lời phỏng vấn của bà, bà đã nói rõ: chỉ nhận xét về Hồ Chí Minh từ thời gian 1919 đến khoảng 1945! Vậy tôi xin cung cấp thêm nhiều tài liệu khác để bà biết, đối với tập đoàn việt gian cộng sản Hồ Chí Minh thì không bao giờ có cái gọi là THÔNG SỬ! Trên thế giới từ xưa đến nay đã có rất nhiều những bộ Sử Liệu được viết ra của từ một  người hay một nhóm người độc lập. Họ phê phán, chọn lọc sử liệu một cách độc lập không bị sự chi phối của bất cứ áp lực nào.  Ở Việt Nam cũng vậy, dù là thời phong kiến hay thời bị cai trị bởi thực dân Pháp, cũng như dưới Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà.

 

Nhưng với tập đoàn VGCS (Việt Gian Cộng Sản)  Hồ Chí Minh thì hoàn toàn trái hẳn của cái  được gọi là Thông Sử; tập đoàn VGCS hoàn toàn độc quyền với những tên sử nô được chọn lọc và đào tạo có hệ thống theo quan điểm của Marx và Lenin. Còn một vấn đề khá đặc biệt khác nữa là chúng tổ chức cho TOÀN DÂN VIẾT LỊCH SỬ. Tất cả các cơ quan đoàn thể đều có nhân sự đặc trách về lịch sử của ngành mình, của địa phương mình... chúng còn phong phú hoá những phương tiện có dính dáng đến cái gọi là LỊch Sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam bằng những thứ như Nhà bảo tàng, như các tài liệu trong các miếu thờ của những tên VGCS cao cấp.  Nếu có thì chúng tô hồng lên và bôi trắng hay xoá nhoà những tì bẩn của những tên đó.  Nếu không có tài liệu nào khác thì chúng sẵn sàng sản xuất ra các TÀI LIỆU GIẢ.  Ngay cả tài liệu thật của chúng, nếu như -chúng xét thấy không thích hợp-  chúng sẽ cho thay thế bằng hiện vật giả.  Thậm chí chúng  còn bịa ra các chuyện KHÔNG HỀ CÓ THẬT và cũng KHÔNG THỂ NÀO CÓ THẬT.  Hơn thế nữa, chúng vẫn ngoan cố duy trì những điều không sự thật và hoàn toàn láo lếu đó. Chúng coi  đó là một biện pháp trắc nghiệm lòng dân “có tin Đảng tuyệt đối” hay không? Cho nên đôi lúc chúng bật mí  những chuyện bịa không thật đó như chuyện tên Lê Văn Tám!!!

 

Xin đưa vài thí dụ cụ thể để chứng minh:

 

Loại trừ những tài liệu còn tồn tại bí mật trong dân gian qua ấn phẩm lần đầu, còn những ấn phẩm trong các lần tái bản đều có sự BÔI ĐEN TÔ HỒNG SỰ THẬT LỊCH SỬ. 

 

 

 

Ở đây tôi xin đưa ra 4 tài liệu để dẫn chứng:

 

1.    Lá thư do Hồ việt gian gởi cho Nga Xô vào cuối năm 1929 trong đó Hồ có hứa hẹn việc Bonshevik Hoá toàn Đảng, toàn Dân Việt Nam. Hắn còn hứa, coi tư tưởng Quốc Gia và các Đảng Phái Quốc Gia của Người Việt là CẦN PHẢI BỊ TIÊU DIỆT.

 

Hắn cũng khẳng định Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời phải LÀ MỘT CHI BỘ CỦA QUỐC TẾ 3 (tức Bộ Thuộc Địa của Nga Xô-CKV) và CHỈ TUÂN THEO LỆNH của Bộ Thuộc Địa Nga Xô! (tức Quốc Tế 3).

 

2.    Lá thư của Trần Phú, Tổng Bí Thư Đảng CSVN đầu tiên do Nga Xô CHỈ ĐỊNH đã báo cáo với Nga Xô rằng HỒ chỉ có nhiệm vụ làm liên lạc viên nhưng lúc nào hắn cũng làm ra vẻ là cán bộ lãnh đạo (nên nhớ sau khi Đảng Cộng Sản Việt được Nga Xô cho ra đời thì Hồ Việt Gian không có tên trong Ban Chấp Hành Trung Ương.  Trần Phú còn đi xa hơn nữa khi tỏ ý nghi ngờ HỒ là phần tử khiêu khích, ý nói là tên Phản Động hoặc Nhị Trùng.

 

3.    Hà Huy Tập, Thường Vụ Đảng CSVN cũng tố cáo những việc RẤT NGHI NGỜ HỒ vì những hành động sai nguyên tắc của tổ chức một cách trầm trọng. Thí dụ như Tổ chức VGCS ở Việt Nam gởi người qua cho Hồ mà Hồ chỉ có trách nhiệm giúp đỡ chỉ đường chỉ lối cho họ qua Nga học.  Thế nhưng Hồ lại làm những việc vô nguyên tắc như bắt những thanh niên Việt Nam đó phải khai lý lịch ba đời và phải khai tên tuổi 7 người bạn thân nhất. Tất cả đều phải có tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ rõ ràng.

 

4.    Tại Đại Hội I của VGCS ở Macao năm 1935, bản báo cáo chính trị của Hà Huy Tập, Bí Thư Đảng CSVN đã liệt kê những “tên việt gian” (theo quan điểm của Đảng CSVN-CKV) là những người yêu nước như Cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng...

 

 Còn một điều đặc biệt khác nữa đó là ngày Khánh Thành Viện Bảo Tàng Lịch Sử Cách Mạng Việt Nam, toạ lạc tại ngã tư đường Nguyễn Thái Học – Cao Bá Quát, Hà Nội, trong toà Building của các Frère, HUYNH (tu sĩ Công Giáo) bị Việt Gian Cộng Sản chiếm hữu.  HỒ cùng một phái đoàn ít người, trong đó có một số phóng viên khi tới phòng trưng bày hiện vật về Hà Huy Tập.  HỒ đã chỉ tay vào tấm ảnh Hà Huy Tập rồi nói: “xưa kia chú Tập hay phê bình Bác lắm”!!! Khi HỒ ra về, Tố Hữu đích thân chỉ huy tháo gỡ toàn bộ phòng trưng bày về Hà Huy Tập!!! Điều này không bao giờ được ghi chép trong sách báo.  Những nhân chứng trực tiếp nay đều đã quá vãng vì tuổi già, hoặc vì vấn đề an ninh cho nên không còn biết có bao nhiêu người biết về chuyện này.

 


Sau này, lũ VGCS bắt đầu từ  lúc Nguyễn Phú Trọng lên làm Tổng Bí Thư.  Trọng mới đồng ý với nhóm gọi là “Bộ Chính Trị Nghệ Tĩnh” gồm những tên Hồ Đức Việt, Uỷ Viên Bộ Chính Trị, kiêm Bí Thư Ban Chấp Hành Trung Ương, phụ trách Uỷ Ban Tổ chức Trung Ương cùng với những tên gốc Nghệ Tĩnh nằm trong Bộ Chính Trị  đã cho phục hồi lại vị trí của Hà Huy Tập. Cho dựng tượng, lập khu lưu niệm, lập miếu thờ Hà Huy Tập. Chúng còn cho đi kiếm hậu duệ của Hà Huy Tập để chia sẻ cho một chút bổng lộc của tập đoàn VGCS, đã bán nước, bán dân trở thành những tên nô lệ CHO TIỀN (dollars, Nhân Dân Tệ...). Hậu duệ còn lại của Hà Huy Tập chính là MỤ Nguyễn Thị Kim Tiến. Mụ này được nhấc một phát từ một Bác Sĩ y khoa, học ở Anh Quốc  về,  nhảy lên Trung Ương VGCS nắm chức Bộ Trưởng Bộ Y Tế.

 

Biết bao chuyện bê bối, thậm chí còn không đủ phiếu tín nhiệm cho nên  bị chúng tống cổ ra khỏi Trung Ương VGCS. Tuy nhiên mụ này vẫn được giữ nguyên chức Bộ Trưởng Bô Y Tế. Điều này là một ngoại lệ chưa từng xảy ra trong sinh hoạt của VGCS.

 

Đến nay, được biết tại Đại Hội VGCS lần tới, chắc chẳng được ai giới thiệu cho nên ngay từ bây giờ trong kế hoạch nhân sự, Ban Tổ Chức VGCS đã chính thức  -được Nguyễn Phú Trọng chấp thuận- cho Mụ Nguyễn Thị Kim Tiến giữ chức Trưởng Ban Bảo Vệ Sức Khoẻ Trung Ương kiêm Bộ Trưởng Bộ Y Tế!

 

Không biết bà TS SQJ có biết chuyện này không?  Bà có thấy thấy tập đoàn VGCS đã công khai quảng cáo việc chúng dẫm chân lên ngay chính cái gọi là “Hiến Pháp, Tự Biên, Tự Diễn, Tự Thực Thi” của chúng?

 

Chú Ý 10: Trong bài trả lời phỏng vấn của BBC – Ban Tiếng Việt, bà TS SQJ đã nói ra nhiều vấn đề gây nhiều phức tạp liên quan đến những hành vi đốn mạt của Hồ đối với nhiều phụ nữ mà một trong những phụ nữ đó có con Nguyễn Thị Minh Khai, vì bà luôn tìm kiếm né tránh tội lỗi của tên việt gian, dâm loàn  Hồ Chí Minh.

 

Chúng tôi xin  trích nguyên văn câu trả lời của bà như sau:

 

“Tôi không chắc đó có phải một cuộc hôn nhân thật sự hay không. Chúng ta biết là khoảng giữa năm 1930, bà Nguyễn Thị Minh Khai được giao đến làm việc tại văn phòng của ông Hồ ở Hong Kong, rồi sau đó được giao công việc liên lạc với đảng cộng sản Trung Quốc.

 

Vào tháng Hai năm 1931, ông Hồ có nhắc việc vợ của ông đang bận chuẩn bị cho ngày Tết và chuẩn bị đón khách từ Việt Nam. Ông Hồ cũng viết thư cho Quốc tế Cộng sản, có vẻ như trong đó ông đề cập tới một đám cưới sắp diễn ra.

 

Bởi vì sau đó Quốc tế Cộng sản viết thư trả lời, nói ông cần đình hoãn đám cướI cho đến khi có chỉ thị mới. Tôi sẽ ngần ngừ khi nói liệu ông Hồ có phải đang nóI về việc làm đám cưới thật sự hay không bởI vì trong các thư từ, họ thường sử dụng nhiều loại mật mã.

 

Nhưng trong trường hợp này, có vẻ như lá thư nói những chuyện thật sự đang diễn ra bởi vì trong cùng một lá thư ông Hồ cũng thảo luận nhiều vấn đề khác một cách công khai. Và từ những gì ngườI ta biết vào năm 1934, Nguyễn Ái Quốc có một người vợ được cử tới đại hội của Quốc tế cộng sản ở Moscow.

 

Khi Minh Khai tới Moscow, bà ấy có viết trong lý lịch nói mình kết hôn với "Lin" - bí danh của ông Hồ thời bấy giờ. Vì vậy, người ta có thể ngờ rằng giữa hai người có một mối quan hệ vào năm 1931.

 

BBC:Bà nói mình không chắc có thể dùng chữ "hôn nhân" ở đây. Vậy nếu người ta hỏi liệu đã một mối quan hệ tình cảm giữa ông Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Minh Khai, vậy bà sẽ trả lời thế nào?

 

Tôi nghĩ câu trả lời là Có, đặc biệt nếu chúng ta dựa vào một số chứng liệu khác. Ví dụ vào năm 1945, trong cuộc nói chuyện với một phóng viên Mỹ, ông Hồ Chí Minh có nhắc ông từng có một người vợ, nhưng bà đã qua đời.

 

Hoặc có những đề cập nói rằng vào cuối thập niên 1930, khi Nguyễn Thị Minh Khai quay về Việt Nam, bà đã chia cắt với người chồng là một nhà cách mạng lớn tuổi đang ở nước ngoài. Điều này nghe giống như một sự miêu tả ông Hồ Chí Minh.

 

BBC: Nhưng nếu dựa trên những nguồn tài liệu của Pháp, ta có khuynh hướng tin là bà Nguyễn Thị Minh Khai có nhiều mối quan hệ với các đồng chí khác nhau trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1940. Vậy thì đâu là thực, đâu là hư?

 

Đây chính là điểm làm câu chuyện phức tạp. Thông tin tình báo của Pháp lúc bấy giờ thường đề cập bà Minh Khai có mối quan hệ với nhiều người khác nhau. Ví dụ, năm 1932, mật thám Pháp tin rằng bà là người tình của Trần Ngọc Danh, em trai ông Trần Phú.

 

Chúng ta không biết chắc liệu đây có thuộc về dạng hôn nhân cách mạng hay không, khi mà hai người cùng chí hướng đã giả trang làm người yêu để dễ đánh lạc hướng chính quyền đương thời. Hay còn điều gì hơn thế! Thật khó để biết rõ cách thức hoạt động của những người hoạt động cách mạng bởi vì họ có thể xem mình thuộc về một thế giới khác, vượt khỏi các khuôn khổ đạo đức bình thường.” (hết trích)

 

Trong đoạn trích dẫn này có những vấn đề rất quan trọng đã bị bà làm mơ hồ. Thí dụ cụ thể:

 

1.    Bà nói: “...vậy là sau khi Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng Sản vào tháng 2, hai người này quay về Việt Nam hoạt động. Cuối cùng đến tháng 10 diễn ra Hội Nghị Trung Ương Lần Thứ 1 tại Hongkong” (sic)

 

Ở phần này bà đã sai lầm ở chỗ tên Hồ Chí Minh chưa bao giờ được coi là lãnh tụ của những người theo chủ nghĩa Cộng sản. Hắn chỉ được xem như một cán bộ của Quốc Tế 3, tức Bộ Thuộc Địa Nga Xô.  Sự có mặt của Hồ trong những ngày những người Cộng sản Việt Nam ở cả 3 Miền Bắc – Trung – Nam họp lại để  thống nhất thành một tổ chức duy nhất.  Chúng làm việc đó vì Nga Xô đã trực tiếp chỉ định Trần Phú về để tổ chức ra Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ đến với tư cách tham dự viên do Quốc Tế 3 chỉ thị. Chính tại Hội Nghị này Trần Phú mới là người được coi là Lãnh Tụ Số 1, tức Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam.  Sau đó, theo chỉ thị của Quốc Tế 3, chúng đổi thành Đảng Cộng Sản Đông Dương và đương nhiên Trần Phú vẫn là Tổng Bí Thư.  Xin lưu ý bà TS SQJ rằng Hồ Chí Minh chưa bao giờ được bầu vào Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương.  Hắn chỉ công tác với tư cách Liên Lạc Viên của Quốc Tế 3 với Đảng Cộng Sản Đông Dương mà thôi.

 

2.    Còn về câu chuyện Nguyễn Thị Minh Khai thì bà diễn giải sự việc để cố tránh đề cập đến nhân vật Lê Hồng Phong, hôn phu chính thức của Nguyễn Thị Minh Khai. Bà tìm đủ mọi cách lý giải để nếu mọi người có hiểu theo cách bà nói, thì họ chỉ nghĩ đến Nguyễn Thị Minh Khai như một cô gái không đàng hoàng trong cuộc trao đổi của bà với BBC – Ban Tiếng Việt mà chúng tôi trích dẫn dưới đây:

 

“BBC:Bà nói mình không chắc có thể dùng chữ "hôn nhân" ở đây. Vậy nếu người ta hỏi liệu đã một mối quan hệ tình cảm giữa ông Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Minh Khai, vậy bà sẽ trả lời thế nào?

 

Tôi nghĩ câu trả lời là Có, đặc biệt nếu chúng ta dựa vào một số chứng liệu khác. Ví dụ vào năm 1945, trong cuộc nói chuyện với một phóng viên Mỹ, ông Hồ Chí Minh có nhắc ông từng có một người vợ, nhưng bà đã qua đời.

 

Hoặc có những đề cập nói rằng vào cuối thập niên 1930, khi Nguyễn Thị Minh Khai quay về Việt Nam, bà đã chia cắt với người chồng là một nhà cách mạng lớn tuổi đang ở nước ngoài. Điều này nghe giống như một sự miêu tả ông Hồ Chí Minh.

 

BBC: Nhưng nếu dựa trên những nguồn tài liệu của Pháp, ta có khuynh hướng tin là bà Nguyễn Thị Minh Khai có nhiều mối quan hệ với các đồng chí khác nhau trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1940. Vậy thì đâu là thực, đâu là hư?

 

Đây chính là điểm làm câu chuyện phức tạp. Thông tin tình báo của Pháp lúc bấy giờ thường đề cập bà Minh Khai có mối quan hệ với nhiều người khác nhau. Ví dụ, năm 1932, mật thám Pháp tin rằng bà là người tình của Trần Ngọc Danh, em trai ông Trần Phú.” (sic)

 

Với trích dẫn này, bà đã cố chứng minh rằng Hồ Việt Gian với Nguyễn Thị Minh Khai là mối quan hệ trong sáng chứ không phải Hồ Chí Minh  là kẻ đã cướp hôn thê của Lê Hồng Phong, còn Nguyễn Thị Minh thì chỉ là kẻ cắm sừng Lê Hồng Phong.  Bà lại còn tìm cách khéo léo nếu không muốn nói là lươn lẹo để bạn đọc tin rằng mối quan hệ của Hồ và Nguyễn Thị Minh Khai thì kẻ có tội chính là Nguyễn Thị Minh Khai.

 

Vì thế bà mới đưa ra một ví dụ rằng: “Năm 1932, mật thám Pháp TIN RẰNG bà là người tình của Trần Ngọc Danh, em trai ông Trần Phú.”   Trong đoạn này bà cũng lại dùng cụm chữ “TIN RẰNG” thay vì phải viết rõ là “mật thám Pháp có tài liệu, chứng cớ cụ thể” (!?).

 

3.    Một điều nguy hiểm nữa khi bà đưa ra nhận xét với câu nói sau đây: “Thật khó để biết rõ cách thức hoạt động của những người hoạt động cách mạng bởi vì họ có thể xem mình thuộc về một thế giới khác, vượt khỏi các khuôn khổ đạo đức bình thường.” (sic)

 

Như vậy thưa bà TS SQJ, xin hỏi bà rằng trên thế giới đã có rất nhiều nhà Cách Mạng hoạt động vì quyền lợi đất nước họ, bà có thấy hay nêu ra được một thí dụ nào họ cũng “chồng chung, vợ chạ” như lũ gọi là lãnh tụ việt gian cộng sản không?

 

4.    Chúng tôi có thể kể về những chuyện “chồng chung - vợ chạ” của cái đám gọi là “lãnh tụ” của tập đoàn việt gian cộng sản Hồ Chí Minh từ khi chúng cướp được bộ máy nhà nước Việt Nam cho đến nay. Có điều khó khăn là chúng tôi không thể có bằng chứng dạng tài liệu, vì trong chế độ VGCS không ai dám giữ những tài liệu như thế và cũng chẳng ai dám nhận mình là nạn nhân hay chứng nhân. Khá nhiều người biết, nhất là trong giới văn nghệ sĩ, báo chí. Cho nên ở đây chỉ có những chuyện tiếu lâm, hoặc ca dao truyền khẩu trong dân gian. Nên nhớ tập đoàn VGCS đã từng nhận xét: “Văn học dân gian là phản động”!!! Câu nói này là do tên Vũ Đức Phúc, Viện Trưởng Viện Văn Học phát biểu. Cho nên chúng tôi chỉ có thể đưa ra một vài bài như vậy về văn học dân gian khi nhận xét về lũ lãnh tụ Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc “Chồng Chung - Vợ Chạ” của chúng.  Thí dụ bài thơ ghế đá “Đảng Lợn Dê”. Vì thế, điều bà nói: “Thật khó để biết rõ cách thức hoạt động của những người hoạt động cách mạng bởi vì họ có thể xem mình thuộc về một thế giới khác, vượt khỏi các khuôn khổ đạo đức bình thường.” (sic) thì chúng tôi không cần phải mất nhiều thời gian tranh  luận thêm về lối suy nghĩ rõ ràng là đang cố tình chạy tội cho  tên đại việt gian, đại dâm loàn Hồ Chí Minh của bà.

 

Chú Ý 11: Chúng tôi xin tiếp tục trích dẫn nguyên văn một câu trả lời nữa của bà TS SQJ với BBC - Ban Tiếng Việt để đi tới mục tiêu chính của bà là BẢO VỆ và ĐÁNH BÓNG cho tên đại tội đồ, đại việt gian Hồ Chí Minh!

 

Xin trích nguyên văn:

 

“Chứ còn lúc mới đến Quảng Đông, ông Hồ rất vất vả trong việc có đủ tiền giúp cho việc giúp đưa các thanh niên Việt Nam sang Quảng ̣Đông tham gia các khóa đào luyện. Như vậy, không có một kế hoạch, chỉ thị rõ ràng dành cho ông Hồ và ông phải tự bươn chải, đối phó với các vấn đề khi chúng diễn ra.

 

BBC:Chúng ta có biết tâm trạng của ông Hồ lúc này không?

 

Tôi nghĩ ông ấy cảm thấy bức bối vì thiếu sự giúp đỡ cụ thể của Quốc tế Cộng sản, hay người Nga hay người cộng sản Pháp lúc đó. Trong năm 1924, ông Hồ liên tục gửi thư yêu cầu các lãnh đạo Quốc tế Cộng sản chú ý nhiều hơn đến nhu cầu của phong trào tại Việt Nam.

 

Cuối cùng thì vào đầu năm 1927, thông qua một đại biểu Quốc tế Cộng sản từ Pháp sang Quảng Đông, ông Hồ nhận được một ngân khoản. Nhưng không may là trước khi kế hoạch được thực hiện, xảy ra cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch và ông Hồ phải rời khỏi Quảng Đông trước khi các khóa đào tạo mà ông muốn tiến hành có thể khởi động một cách toàn diện.  (hết trích)

 

Xin phép quý bạn đọc cho chúng tôi CHỈ RA đânhững  SAI LẦM TRẦM TRỌNG của bà TS SQJ như sau:

 

1.    Theo quan điểm của bà TS SQJ thì Hồ Chí Minh làm việc phiên dịch trong hãng tin của Nga Xô ở Quảng Đông. Chúng tôi thắc mắc về khả năng tiếng Nga và tiếng Tàu của Hồ lúc đó có đủ để làm công việc dịch thuật không, hay sự thực chính là việc khoác áo dịch thuật viên để làm những việc được gọi là ĐÁNH PHÁ PHONG TRÀO QUỐC GIA DÂN TỘC của NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC trong công cuộc chống thực dân Pháp. Chính vì thế cho nên cuối năm 1924 Hồ mới tới Quảng Đông, thì 1925 nó đã BÁN CỤ PHAN BỘI CHÂU cướp tổ chức của Cụ Phan biến thành tổ chức của nó để Nga Hoá những thanh niên Việt Nam yêu nước. Vấn đề này chúng tôi đã đề cập ở những phần trước.

 

Việc làm này của Hồ, Bà TS SQJ KHÔNG HỀ NHẮC TỚI, nhưng lại lươn lẹo bịa ra chuyện: “...lúc mới đến Quảng Đông, ông Hồ rất vất vả trong việc có đủ tiền giúp cho việc giúp đưa các thanh niên Việt Nam sang Quảng ̣Đông tham gia các khóa đào luyện. Như vậy, không có một kế hoạch, chỉ thị rõ ràng dành cho ông Hồ và ông phải tự bươn chải, đối phó với các vấn đề khi chúng diễn ra” (sic).

 

Làm gì có chuyện đó, thưa bà TS SQJ! Bà hãy đọc những tờ trình của Trần Phú và Hà Huy Tập thì bà sẽ thấy rằng việc tuyển người cũng như mọi chi phí chuyến đi sang Nga học tập đều do cá nhân những người thanh niên được tuyển và tổ chức Cộng sản Việt Nam ở trong nước đảm trách.  Còn Hồ, với tư cách liên lạc viên ở hải ngoại chỉ có nhiệm vụ đón tiếp họ và chỉ đường cho những thanh niên đó qua Nga Xô. Nhiệm vụ của nó chỉ có thế!!! Còn với đồng lương phiên dịch thì làm sao Hồ có thể giúp được cho thanh niên Việt Nam sang Quảng Đông tham gia các khoá đào luyện??? Nếu có thể xin bà đưa dẫn chứng về một thanh niên nào đó được Hồ sử dụng tiền cá nhân để giúp thanh niên đó sang Quảng Đông để dự các khoá đào luyện?

 

Chúng tôi xin trích thêm một đoạn nữa, mong bà giải thích rõ ràng hơn:

 

Trích nguyên văn:

 

“BBC:Chúng ta có biết tâm trạng của ông Hồ lúc này không?

 

Tôi nghĩ ông ấy cảm thấy bức bối vì thiếu sự giúp đỡ cụ thể của Quốc tế Cộng sản, hay người Nga hay người cộng sản Pháp lúc đó. Trong năm 1924, ông Hồ liên tục gửi thư yêu cầu các lãnh đạo Quốc tế Cộng sản chú ý nhiều hơn đến nhu cầu của phong trào tại Việt Nam.

 

Cuối cùng thì vào đầu năm 1927, thông qua một đại biểu Quốc tế Cộng sản từ Pháp sang Quảng Đông, ông Hồ nhận được một ngân khoản. Nhưng không may là trước khi kế hoạch được thực hiện, xảy ra cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch và ông Hồ phải rời khỏi Quảng Đông trước khi các khóa đào tạo mà ông muốn tiến hành có thể khởi động một cách toàn diện.” (hết trích)

 

Xin hỏi, theo như bà nói: vì trong năm 1924, Hồ liên tục gởi thư yêu cầu các lãnh đạo Quốc Tế Cộng Sản chú ý nhiều hơn đến nhu cầu của phong trào tại Việt Nam. Nhờ đó mà vào đầu năm 1927, Hồ đã nhận được một ngân khoản (bà không cho biết số tiền là bao nhiêu). Rồi vì có cuộc đảo chánh của Tưởng Giới Thạch nên Hồ phải dời khỏi Quảng Đông, cho nên không tiến hành được các khoá đào tạo.

 

Như vậy xin hỏi bà số tiền trong ngân khoản nói trên được sử dụng vào việc gì và ở đâu? Phải chăng đó cũng là một trong các lý do mà những người viết sách về Hồ đề cập đến việc Hồ đã bị Kremlin thất sủng cho nên Hồ không biết làm gì, để cho đến tận năm 1936, HỒ MỚI THEO PHÁI ĐOÀN BORODIN vượt sa mạc về Nga Xô. Và các nhà viết sách đó đã đặt câu hỏi: thật là hiếm hoi khi thấy Hồ không bị trừng phạt gì nặng nề và còn được ở lại Nga để TRAU DỒI TIẾNG NGA và học tập chính trị.  Và chính Nguyễn Khánh Toàn là giáo sư giảng dạy cho Hồ.

 

Chúng tôi có chứng cớ  để lý giải lý do Hồ nằm im một thời gian dài rồi khi Hồ trở về Nga Xô lại không bị “TRỪNG PHẠT”, trái lại còn được học tập MỘT CÁCH CHÍNH QUY.

 

Chú Ý 12: Có một vấn đề hết sức quan trọng –theo chúng tôi nhận xét và tìm hiểu- để thấy rằng KHÔNG CHỈ BÀ TIẾN SĨ mà ngay cả nhiều sử gia khác khi viết về Hồ và cái tập đoàn cộng sản của hắn ĐÃ KHÔNG GIẢI THÍCH ĐƯỢC, hoặc CỐ TÌNH BỎ QUA mấy sự kiện rất QUAN TRỌNG trong hoạt động của Hồ Chí Minh và tập đoàn VGCS của hắn.

 

Thí dụ:

 

1.    Chúng tôi có đủ tài liệu cụ thể để chứng minh rằng ĐẠI ĐA SỐ NHÂN DÂN VIỆT NAM căm ghét Đảng Cộng Sản Đông Dương và tập đoàn Hồ Chí Minh

 

2.    Chúng tôi cũng đủ chứng cớ tài liệu để mạnh dạn nói lên rằng Hồ đã được những thế lực Quốc Tế xếp chỗ cho ngồi.  Và họ lờ đi những tín hiệu Hồ cho biết từ năm 1946 rằng hắn đã chọn con đường của Nga Xô và của Tàu Mao.  Nhưng những nhà chính trị Quốc Tế đã cố giả mù để đánh bóng Hồ là Một Nhà Cách Mạng Quốc Gia (!?)

 

Chúng tôi sẽ công bố những tài liệu đó khi bà TS SQJ, hoặc những sử gia ngoại quốc, kể cả sử nô của tập đoàn VGCS muốn tranh luận công khai vấn đề này.

 

Subscribe to our Newsletter

Contact our Support

Email us: Support@templateism.com

Thành Viên của Website