CHÍNH KHÍ VIỆT

Monday, March 23, 2015

Duyên Lãng Hà Tiến Nhất: (Phần 1) LỐI THOÁT DUY NHẤT CHO VIỆT NAM LÀ TIÊU DIỆT ĐẢNG VIỆT GIAN BÁN NƯỚC

LỐI THOÁT DUY NHẤT CHO VIỆT NAM LÀ
               TIÊU DIỆT ĐẢNG VIỆT GIAN BÁN NƯỚC
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Cuộc chiến chống cộng trên Đào Hoa đảo
     Có lần tôi hỏi môt người bạn Việt gốc Tầu, sĩ quan QLVNCH, dân HO cải tạo về, xem đảo Đào Hoa nằm ở đâu trên bản đồ. Anh cười hóm hỉnh: “Nó nằm ở trong đầu ông Kim Dung chứ ở đâu.” Tôi hiểu được ý anh muốn nói gì. Thế nhưng trong tìểu thuyết của Kim Dung, Đào Hoa đảo được mô tả là một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi không xa bờ biển nưóc Tầu là mấy. Trên đảo có rừng, có núi, có sông, có suối, phong cảnh thật hữu tình. Đặc biệt, ở đây, người ta trồng bạt ngàn cây anh đào. Vì thế mới có cái tên “Đào Hoa đảo”. Vào mùa xuân, hoa anh đào nở rộ khiến đảo Đào Hoa trở nên như một vùng tiên cảnh.
     Trong tiểu thuyết “Anh Hùng Xạ Điêu”, đảo Đào Hoa được coi là là căn cứ địa bất khả xâm phạm của Đông Tà Hoàng Dược Sư, một trong Thiên hạ ngũ tuyệt được giới võ lâm ngưỡng mộ. Đối thủ của Đông Tà rất nhiều và kẻ thù cũng không phải ít. Hoàng đảo chủ là người am hiểu Kinh Dịch nên đã biến đảo Đào Hoa thành  một Bát Quái Trận Đồkhiến cho người lạc vào đó không dễ dàng tìm được lối ra. Lồng vào bát quái trận đô này là mùi hoa anh đào trên đảo. Mùi thơm của loài hoa anh đào trên đảo có đặc tính vừa thôi miên, vừa mang độc tố, có khả năng làm biến đổi tính tình và trí phán đoán của con người. Kẻ gian phi xâm phạm đảo Đào Hoa không những không tìm được lối ra, mà còn trở thành những con người điên loạn, cực kỳ hung ác. Chúng tự tìm giết lẫn nhau chứ không cần đến đảo chủ hay đám thuộc hạ phải ra tay. Đông Tà Hoàng Dược Sư còn nuôi nhiều tên tội phạm. Ông cắt lưỡi, chọc thủng màng nhĩ để dùng chúng làm nô lệ trên đảo. Hoàng đảo chủ xây nhiều kiến trúc tân kỳ, tráng lệ trên đảo như núi Đàn Chỉ, động Thanh Âm, rừng Lục Trúc, đình Thí Kiếm khiến nơi đây như có ma lực thu hút quần hùng khắp mọi nơi.
     Đào Hoa đảo được mô tả là một vùng tiên cảnh nhưng đồng thời cũng là nơi gởi xác của rất nhiều người có khi vì hâm mộ, có khi vì tò mò, lại cũng có khi chỉ vì vô tình hay bất đắc dĩ. Đối với người dân sống ven biển gần đảo Đào Hoa, họ luôn coi đây là một nơi bất khả xâm phạm. Vào đây tất nhiên là mất mạng.
     Ý tưởng so sánh việc nhân dân VN chống cộng sản với chuyện đảo Đào Hoa xem ra có phần hơi ngộ nghĩnh. Thế nhưng chịu để ra một chút suy nghĩ, người ta sẽ khám phá ra rằng hai cảnh huống có rất nhiều điểm tương đồng, nhất là về mặt người lãnh đạo bảo vệ quyền hành và tài phát huy thủ đoạn của những vai lãnh đạo. Có thể ví được tên quốc tặc Hồ chí Minh là học trò có năng khiếu của Hoàng Dược Sư đảo chủ. Tên gian tặc Hồ Chí Minh và đảo chủ Đông Tà Hoàng Dược Sư tính tình của hai thầy trò giống nhau như đúc: thô bạo, nham hiểm, độc tài, độc đoán, tự cao tự đại, sống cô độc, và rất gian ác. Cả hai nổi danh trong giang hồ về môn võ công lừa lọc, xảo trá, ma giáo, và cực kỳ man rợ. Hoàng Dược Sư lừa gạt đảo chủ đảo Đào Hoa để chiếm đảo thế nào thì tên gian tặc Hồ chí Minh cũng gạt gẫm các đảng phái quốc gia và nhân dân cả nước để chiếm giang sơn như thế. Cả hai, sau khi chiếm giữ được căn cứ địa rồi thì xưng bá một cõi và tiêu diệt võ lâm đồng đạo khác môn phái bất cứ ai.
     Điểm tương đồng quan trọng hơn nữa là ngón nghề sử dụng bí kíp. Như trên chúng tôi đã trình bầy, Hoàng đảo chủ sau khi độc chiếm đảo Đào Hoa đã trồng trên khắp đảo loại cây anh đào. Đông Tà có phép luyện cho cây anh đào, nhất là về mùa hoa anh đào nở, để chúng tỏa ra một mùi hương thơm mang độc tố, vừa có sức quyến rũ, vừa có khả năng thôi miên đầu độc người ta. Mùi thơm hoa anh đào có tác dụng đối với người hít ngửi tương tự như mùi thơm món chả chìa xưa kia của các nhà hàng bán “cờ tây hoặc nai đồng quê” tại Saigon. Không biết ngày nay có còn không? Tiện cũng nên ôn lại một tí cho đỡ nhớ.
     Tại Saigon khu ngã ba Ông Tạ trước năm 1975 về mùa nắng có gió nồm, các nhà hàng “Cờ Tây” hay còn gọi là “Nai Đồng Quê” thường có món đặc sản gọi là “chả chìa”. Chả chìa là xương sườn non của con “nai”. Giết “nai” xong, cạo sạch lông, đem thui vàng. Mổ con “nai” ra, người ta lạng lấy hai bẹ sườn non của nó, treo miếng sườn lên hồi lâu cho ráo nước, đem ướp riềng, mẻ, mắm tôm, và tí ti bột ngọt, để khoảng vài ba tiếng đồng hồ cho thấm, rồi đem nướng. Người ta bắc một cái lò than trước cửa nhà hàng, đặt trên lề đường để nướng chả chìa. Những miếng sườn được đem ra xếp trên cái vỉ sắt trên bếp lò, rồi lấy quạt quạt phe phẩy để nướng thịt. Miếng sườn từ từ trở nên vàng ươm và tỏa mùi thơm phức, thơm khiến người ta ngửi thấy phải nhỏ rãi. Cứ chiều về, cả khu vực ngã ba Ông Tạ được thưởng thức free hưong vị món chả chìa. Anh xích lô, chị công nhân đi ngang qua làm sao mà chịu thấu. Thú thực người viết không có đủ chữ nghĩa và tài văn chương để diễn tả được cho đúng cái mùi vị này của món chả chìa làm bằng sườn non của “nai đồng quê”.
     Để chứng minh sức lôi cuốn của cái hương vị hấp dẫn này, người viết chỉ còn một cách duy nhất là kể lại điển tích về linh mục Nguyễn Quang Lãm liên quan đến hương vị chả chìa. Cha Lãm tuy là dân Tây học [du học tại Pháp] nhưng không sao bỏ được hai đặc tính của dân Bắc Kỳ di cư là khoái món nai đồng quê và nghiền thuốc lào. Mặc dầu làm báo nhưng cha Lãm vẫn dậy môn Pháp Văn tại trường trung học Bùi Chu, mà kẻ hèn này là một môn sinh tối dạ của ngài. Ngài muốn bỏ hút thuốc nhưng không bỏ nổi, nên thường vẫn than thở: “Nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”. Còn về món nai đồng quê thì ngài càng ghiền nặng hơn vì nó khoái khẩu vô cùng. Dân Saigon hồi ấy đồn um lên rằng Lm Nguyễn Quang Lãm, chủ nhiệm nhật báo Xây Dựng, đã phải rời tòa soạn của tờ báo từ đường Phạm Ngũ Lão về ngã ba Ông Tạ chỉ vì mê mẩn cái mùi hương thơm của món chả chìa “nai đồng quê”. Chuyện này hư thực ra sao thì không rõ lắm, ai muốn biết có thể tìm hiểu với ông Vũ Bình Nghi, hiện đang là chủ nhân của tờ Thời Báo ở San Jose. Ông Vũ Bình Nghi hồi đó đang giữ chức nghĩa quân tại Tân Mai, Biên Hòa được cha Lãm rước về tòa soạn báo Xây Dựng để nắm giữ một chức vụ quan trọng trong tờ báo, xếp chữ hay loong toong gì đó không rõ lắm. Ông Vũ Bình Nghi có duyên nợ với nghề báo bổ từ thuở đó.
     Sức quyến rũ của mùi chả chìa ghê gớm như thế, nhưng nó chỉ có tác dụng đối với người bình thường. Mùi hương thơm của hoa anh đào gây tác dụng ở một mức độ cao hơn, nơi những người có võ công, dù người đó thuộc hang võ công cái thế. Thứ hương thơm mà tên Hồ quốc tặc và đồng bọn của hắn tung ra còn ghê gớm hơn mùi chả chìa và hương thơm hoa anh đào gấp bội. Bạn đọc thử nghĩ xem là mùi gì? Xin thưa là mùi “Đồng”. Dân gian quen gọi mùi tiền bạc là Hơi Đồng.
     Tiền bạc có thể nói là một loại vũ khí muôn đời hữu dụng. Nó có khả năng đánh gục địch thủ dù cao cường đến đâu. Chả thế mà cha ông ta phải thừa nhận “có tiền mua tiên cũng được”. Tiên thánh còn mua được bằng tiền bạc thì xá chi con người ta. Phan Diễn lấy tiền bạc để chinh phục người tỵ nạn quả là một hành động trí tuệ và thức thời. Ngày đó chạy CS là vì lý tưởng chống cộng. Bây giờ vấn đề là cơm áo, nhà cửa, tiện nghi, và hưởng thụ. Tất cả đều là tiền. Mỉa mai thay và cũng đau đớn thay là có những kẻ tỵ nạn CS coi việc chống cộng như một cái nghề kiếm tiền độ thân. Danh từ “Nghề chống cộng” xuất phát từ thực tế đó. Từ khi tên Phan Diễn, Ủy viên BCT đảng VGCS cho ra đời NQ36 với ngân khoản 2 tỷ USD để thi hành nghị quyết này, thì ngay lập tức, nhiều ngọn cờ chống cộng hùng dũng phất phới trên non cao đã thay đổi hướng bay, nhiều nhân vật vang bóng một thời phải bừng tỉnh nhận ra rằng cái “lưỡi không xương mới là đường kiếm bạc”. Khi VGCS thổi hơi đồng bay theo gió bốn phương đi khắp nơi thì nhiều nhân vật và tổ chức ví như khu rừng đại thụ ngăn làn nước lũ CS đổ rạp như ngả rạ. Tình trạng xẩy ra không khác ở đảo Đào Hoa của Đông Tà Hoàng Dược Sư. Người chống cộng kẻ bị giết chết phanh thây, người bị móc mắt, chọc thủng màng nhĩ để làm nô lệ, kẻ khác nữa được chiêu dụ và huấn luyện để trở thành những con chó canh chừng đồng loại, không mảy may do dự khi phải trấn áp những đồng đội mình xưa kia, lại có kẻ được sử dung để biểu diễn tuồng hề, đàn ca múa hát mua vui cho dân giang hồ ngoài đường ngoài chợ. Đó là sự thực không thể phủ nhận. Xin nêu một vài thí dụ điển hình rất lộ liễu và trắng trợn không thể chối cãi được: Phó Tổng Thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ, đảng Việt Tân, nhạc sĩ Phạm Duy, tờ nhật báo Người Việt với Đỗ Ngọc Yến, Vũ Ánh v.v … hãng truyền hình SBTN với Trúc Hồ, Hồng Thận … trung tâm băng nhạc Thúy Nga với Tô Văn Lai, Nguyễn Ngọc Ngạn, Cao Kỳ Duyên …. hiện còn Nguyễn Ngọc Lập về tận trong nước để làm hề. Và còn rất nhiều nữa không kể sao cho hết được!
     Chúng ta thử đi vào cụ thể để tính xem số tiền khổng lồ 2 tỷ bạc của NQ36 nó bay vào những hang hốc nào? Tên thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, con trai của mụ Nguyễn Thị Bình, là người hiện đang nắm giữ chìa khoá két bạc này. 2 tỷ dollars tức 2 ngàn triệu đồng chứ phải ít sao? Số tiền quá lớn khó có thể tưởng tượng nổi. Đây thực sự là tiền của người Việt tỵ nạn gởi về giúp VGCS. Dân tỵ nạn vậy mà hảo tâm hiếm có trên đời. NQ36 là chiến dịch chiêu hàng, nói đúng ra là mua chuộc sự đầu hàng của người Việt tỵ nạn. Cứ tạm cho là chi phí điều hành NQ, cộng với tiền chạy lạc vào túi Nguyễn Thanh Sơn và đám thuộc hạ của hắn mất 500 triệu. Còn lại 1 tỷ rưỡi thực sự dùng cho công tác mua chuộc.  Tổng số người tỵ nạn kể gọn là 3 triệu, nếu chia đồng đều thì một người tỵ nạn có giá trị là [1 tỷ 500 triệu dollars : 3 triệu =] 500 USD/một người.
     Chúng ta không thể biết được những người tỵ nạn nào trực tiếp nhận tiền của VGCS để thi hành NQ36, hay căn cứ vào tiêu chuẩn nào để ưóc tính con số được. Nhưng con số người này chắc chắn không nhiều, nhiều lắm cũng chỉ vài ba ngàn trên tổng số 3 triệu. Những kẻ nhận tiền gián tiếp từ nhóm trung gian (số 3 ngàn) thì chắc chắn phải đông hơn. Thí dụ một ông hay bà chủ báo, chủ đài, hay bầu show được kể là nằm trong số 3 ngàn tên trực tiếp lãnh tiền thẳng của VGCS. Đảng trưởng nhữmg chính đảng ma trơi nuốt tiền VC có lẽ đến bội thực. Nhưng ký giả, thông tín viên, người viết feuilleton, làm talkshow, ca sĩ v.v. nên kể là những kẻ làm công lãnh tiền gián tiếp từ tay nhóm trung gian. Nếu chấp nhận con số 3 ngàn tên trực tiếp làm đầy tớ cho VGCS thì số tiền mỗi tên nhận được rất là lớn, trung bình là: [1 tỷ 500 triệu dollars : 3000 =] 500.000/một tên (nửa triệu USD).
     Đây là con số tính đồng đều. Chắc chắn có kẻ nhiều người ít tùy công tác, và tùy ảnh hưởng của công tác. Một tên chủ một tờ báo lớn, chủ một hãng truyền hình, chủ một đài phát thanh v.v. tất nhiên được trả nhiều hơn so với những anh chàng đóng vai hề trong một công tác nào đó mà giới chuyên môn gọi là “công tác món”.  Với số tiền (chui) hàng triệu kiếm được không phải đổ mồ hôi, không phải đóng thuế thì hỏi rằng mấy ai mà từ chối bán danh, bán liêm sỉ, thậm chí bán cả linh hồn cho quỉ dữ?
     Việc chi tiêu về NQ36 của Nguyễn Thanh Sơn chắc chắn là không có receipt, chẳng có sổ sách, cho nên chúng ta không thể biết tên Sơn tiêu xài ngân khoản 2 tỷ dollars vào việc gì, chi ra cho những ai. Nhưng chúng ta cũng có cách của chúng ta để biết được, ít nữa là một cách tổng quát, chuyện này chẳng khó khăn gì, căn cứ vào thuyết nhân quả mà biết thôi: Xem kết quả thì biết được nguyên nhân. Những tổ chức hội đoàn nào, những đảng phái nào, những cơ quan truyền thông, báo chí, website nào, những cơ quan thiện nguyện nào, những cá nhân nào [có thể là thương gia, trí thức, giáo sư, luật sư, bác sĩ, sĩ quan QLVNCH] bất kể, nếu bạn đọc cho rằng chúng đã bị ngã gục và chết ngạt vì “hơi đồng” của NQ36, bạn cứ lật xác chúng nó lên, thọc tay vào túi quần của chúng, cam đoan bạn sẽ moi ra được từ trong đó những tờ dollars bẩn thỉu mà chúng nhận được từ tay tên Nguyễn Thanh Sơn. Vậy thì xin đừng ngạc nhiên tại sao Việt Tân tuyên bố Hồ Chí Minh có công với đất nước, Trúc Hồ khuyên người tỵ nạn đừng chống đảng nữa vì VGCS đã được cả thế giới công nhận rồi. Khánh Ly về Hànội hát toàn bài của phe ta.
     Ngay cả lãnh vực tôn giáo cũng không ngoại trừ. NQ36 chủ trương chinh phục và nắm đầu cả tôn giáo. Khuất phục được các nhà tu hành có nghĩa là VGCS nắm đầu được các giáo hội. Để khuất phục các vị lãnh đạo tôn giáo, NQ36 không chỉ dùng tiền bạc, mà đặc biệt còn sử dụng gái. Chó không chê cứt. Mèo không chê mỡ. Có đàn ông nào chê đàn bà con gái? Hai thứ vũ khí tiền bạc và đàn bà do Nguyễn Thanh Sơn sử dụng đã làm tan rã hàng ngũ phe Ấn Quang, đem số đông phe Ấn Quang về qui thuận phe quốc Doanh. Đó là một thành công lớn của NQ36. Về phía Công Giáo, có vị giám mục công khai chống cộng, có vị “pro” CS ra mặt, cũng có những vị lửng lơ con cá vàng trong hồ kiếng. Không thể xem việc riêng bên ngoài mà đoán việc chung bên trong của Giáo Hội CG được. Với Giáo Hội CG, những chuyện đàn bà, tiền bạc luôn luôn là một bí mật. Cái bí mật “bí mật” nhất không ai biết được, chỉ biết rằng nó nằm trong tay một người đàn bà. Người đó là vợ chính thức có hôn thú của linh mục Phan Khắc Từ: bà Phan Khắc Từ, nhũ danh Tư Liên. Không biết thế nào, chỉ thấy từ thời TGM Nguyễn Văn Bình, đến thời HY Phạm Minh Mẫn, giám mục phụ tá Nguyễn Văn Khảm, Lm Tổng Đại Diện Huỳng Công Minh đề dốc lòng nể sợ Lm Phan Khắc một phép. Ai có tài đến hỏi thăm bà Tư Liên thử coi. Nhiều người tin rằng VGCS nắm giữ cái bí mật này để “run” Giáo Hội Công Giáo VN. Có tin được không? Nếu vậy thì NQ36 quả là siêu quần. Nguyễn Thanh Sơn là một tên CS giầu bản lãnh.
     Cái khổ của dân ta khi “chà đồ nhôm” trên các vỉa hè thành phố nay đã trở thành dĩ vãng. Nỗi nhục nhã và cay đắng của những người vợ lính khi ra phường xin giấy đi thăm chồng nay chỉ còn là dĩ vãng xa mờ. Sự lo sợ, nỗi kinh hoàng, và đói khát trên các chuyến tầu vượt biển nay chỉ còn là một giấc mơ qua. Các trại tập trung, các lớp học cải tạo còn lưu lại trong lòng người lính QLVNCH như kỷ niệm của những đoạn đường chiến binh, đi giây tử thần trong các quân trưòng. Có người nói thời gian xóa mờ đi tất cả. Cũng có phần đúng. Các diễn biến hiện nay mới là quan trọng và hấp dẫn: ca sĩ Khánh Ly trở về hát tại Hànội, mà hát toàn nhạc của phe ta: Người di tản buồn, Đêm chôn dầu vượt biển, Một chút quà cho quê hương, Saigon niềm nhớ không quên, Những nhà dân chủ trong nước được tự do sang Mỹ, vào tận Quốc Hội để vận động cho tự do, nhân quyền, công khai tưởng niệm TT Nguyễn Khoa Nam ngay tại trung tâm Saigon, vui vẻ họp mặt thương phế binh VNCH ngay tại dòng Chúa Cứu Thế trên đường Kỳ Đồng, cựu thiếu úy Nguyễn Ngọc Lập được mời đi xem đảo, đã đào cả mả bố mình lên hạch tội theo Pháp, còn mình thì theo Mỹ, và xin lỗi đảng. Ông thiếu úy tự nhận tội chứ không phải “cách mạng” đổ tội trên đầu ông thiếu úy. Rõ ràng nhá. Ý nghĩa của những biến cố là, bên nào cũng có lỗi, chúng ta nên hỉ xả cho nhau.
     Chúng tôi có cảm tưởng rằng tất cả những biến cố này giống như cái mà người Mỹ gọi là “Melting Pot”, nó được giàn dựng và tiến hành trên con đường thực hiện kế hoạch của VGCS. Kế hoạch này là một thứ nghệ thuật pha mầu. Cái thứ mầu sau cùng mà VGCS muốn có là mầu xanh đỏ trộn lại, thuật ngữ chính trị gọi là “hòa hợp hòa giải”. Nghệ thuật này đòi hỏi QG và CS mỗi bên đều có tiến, có thoái để đi đến mức quân bình. Nhìn vào những diễn biến xẩy ra trong nước, người viết hình dung ra một con chim cú bay đến đậu và kêu trên nóc nhà có người đang sắp chết. Tại sao có những diễn biến chọc giận VGCS mà chúng không ngăn chận hoặc đàn áp? Có phải VGCS bây giờ đã hết khả năng đàn áp hay không còn dám đàn áp nữa không? Tại sao chúng mời con hát Khánh Ly về Hànội hát những bản nhạc mà trước đây chúng cấm hát? Tại sao chúng cho dân tự do đi Mỹ để tố cáo chúng vi phạm nhân quyền? Có phải là điềm gở lạ không?
     Mới đây chúng tôi có đọc một bài viết, trong đó tác giả gọi hiện tượng này là “gió đổi chiều”. Đúng vậy, gió đang đổi chiều ở cả hai phía. Hiện tượng “gió đổi chiều” về phía VGCS là sự tự động rút lui tới mức mà quyền hành của chúng không bị đe dọa. Về phía người quốc gia là sự thay đổi quan điểm, hay cái nhìn đối với VGCS. khi ra đi người tỵ nạn cho rằng CS là một lũ người bất lương, gian ác, phi nhân tính … không thể sống chung với chúng được, mà còn phải tiêu diệt chúng từng tên một. Nay thì khác rồi, họ thấy CS cũng không đến nỗi nào, cũng biết ăn nói lễ độ, dễ thương, biết xử sự cho phải quấy … nên có thể đi lại, làm ăn với chúng cũng chẳng sao. Mục đích của hiện tượng gió đổi chiều đối với VGCS là giấc mơ chúng trút bỏ được mọi tội lỗi để hạ cánh an toàn. Và của người quốc gia là sự thay đổi lập trường, từ ý chí quyết liệt tiêu diệt CS đi đến có thể chấp nhận sống chung với CS.
     Nếu đem tình hình sau ngày 30-4-75 so với tình hình hiện nay, chúng ta thấy chúng ta đang ở vào cái thế bị động, nói trắng ra là chúng ta "đang thua cuộc". Đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung, người viết cố ý tìm xem vườn hoa anh dào trên đảo Đào Hoa về sau ra sao, có bị võ lâm giang hồ hủy diệt hay không, không thấy gì cả. Đành chịu. Nhưng đấy là tiểu thuyết. Việc chính trị thì khác. Còn nước còn tát. Thua một vài trận đánh không phải là thua cả cuộc chiến.        (còn tiếp)
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất 

0 comments:

Post a Comment

 

Subscribe to our Newsletter

Contact our Support

Email us: Support@templateism.com

Thành Viên của Website