CHÍNH KHÍ VIỆT

#LỜI MỞ ĐẦU

Xem thêm

#TT. NGÔ ĐÌNH DIỆM

Xem thêm

#BÀI VIẾT NỔI BẬT CỦA CHÍNH KHÍ VIỆT

Xem thêm

#SỰ THẬT VỀ TÊN TNS CHỈ ĐỊNH NGÔ THANH HẢI

Xem thêm

#Vạch Mặt Nguyễn Ðình Thắng "chỉ thích ãn phân" (Fund)

Xem thêm

#THƯ KHÔNG NIÊM CỦA CHÍNH KHÍ VIỆT

Xem thêm

#Cuộc Đấu Tranh Cư Dân Facebook

Xem thêm

#TRANG ANH NGỮ CKV VÀ VIỆT SĨ

Xem thêm

#BÀI MỚI NHẬN

Xem thêm

#Audio Phương 286 DD Sự Thật ĐVTLA

Xem thêm

#AUDIO BÌNH LUẬN THỜI SỰ MỚI (BMPD ĐỌC)

Xem thêm

#Lý Trọng Tín Kyoto

Xem thêm

#ÔNG VIỆT SĨ

Xem thêm

#Lê Trung Nhân

Xem thêm

#Nhà Văn Phạm Quang Trình

Xem thêm

#BÀI VIẾT CỦA MICHAEL NGUYỄN

Xem thêm

#BÀI VIẾT CỦA TRẦN THANH

Xem thêm

#Thiếu Tá Liên Thành

Xem thêm

#NHÀ VĂN TRẦN THỊ BÔNG GIẤY

Xem thêm

#NHÀ VĂN DUYÊN LÃNG HÀ TIẾN NHẤT

Xem thêm

#Nhà báo Việt Thường

Xem thêm

#DẠY DỖ TRƯƠNG MINH HÒA

Xem thêm

#VẠCH MẶT HỒN VIỆT UK

Xem thêm

#DẠY DỖ WEBSITE BA CÂY TRÚC

Xem thêm

#DẠY DỖ QUẢNG ĐỘ

Xem thêm

#DẠY DỖ LÃO MÓC

Xem thêm

#AUDIO TÂM TÌNH VỚI NIÊN TRƯỞNG

Xem thêm

#YOUTUBE BÌNH LUẬN THỜI SỰ MỚI

Xem thêm

#YOUTUBE HỘI LUẬN HÀNG TUẦN

Xem thêm

#YOUTUBE TÂM TÌNH VỚI NIÊN TRƯỞNG

Xem thêm

#AUDIO CÁC VAI HỀ TRÊN PALTALK

Xem thêm

#TÀI LIỆU TỘI ÁC CỦA TẬP ĐOÀN MA TĂNG GHPGVNTN (ẤN QUANG)

Xem thêm

Thursday, December 12, 2019

Gia Đình Lương Y Phạm Cao Sơn Gia Nhập Đại Gia Đình Công Giáo







Sáng Chúa Nhật, ngày 05 tháng 08 năm 2018, Đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Đệ, Giám mục Giáo Phận Thái Bình, đã chủ tế Thánh lễ lúc 9h00 tại nhà thờ Chính Tòa và cử hành nghi thức ban các Bí tích khai tâm Ki-tô Giáo cho 19 anh chị em dự tòng, trong đó có 13 thành viên trong gia đình ông Lương y Giu-se Phạm Cao Sơn và Bà Tê-rê-xa Nguyễn Thị Nhị. *****
Đọc lời bình: Nguyễn Hữu Chiến Thắng VTV

 

Tuesday, December 10, 2019

NHÂN DÂN VIỆT NAM BỊ TRỊ ĐÃ PHỈ NHỔ LÊN TƯỢNG ĐÀI NGUỴ QUÂN VIỆT GIAN CỘNG SẢN Ở QUẢNG TRỊ

NHÂN DÂN VIỆT NAM BỊ TRỊ ĐÃ PHỈ NHỔ LÊN TƯỢNG ĐÀI NGUỴ QUÂN VIỆT GIAN CỘNG SẢN Ở QUẢNG TRỊ
Nội dung sự việc như sau:
Quảng Trị: Vẽ bậy trên tượng đài 25 tỷ đồng
  


LỜI BÌNH CỦA CHÍNH KHÍ VIỆT


Tập đoàn Việt Gian Cộng Sản chỉ ao ước được vĩnh viễn che mắt nhân dân bị trị Việt Nam về cái tội VIỆT GIAN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC GIẾT DÂN, cho nên việc xây dựng tượng đài của những cá nhân và tổ chức Việt Gian Cộng Sản, thí dụ như thằng Hồ Chí Minh, thằng Giáp, thằng Duẩn, thằng Đồng, thằng Quảng Đức…  cho đến việc chúng vinh danh lũ Nguỵ Quân VGCS, lũ chỉ huy cao cấp lực lượng chó ngao VGCS, lũ gọi là “Thanh Niên Xung Phong” (thực chất là bị cách mạng sai đi để phục vụ sinh lý cho Nguỵ Quân VGCS cùng các lực lượng khác làm đạo quân đánh thuê cho Nga Tàu trong việc xâm lược Việt Nam Cộng Hoà.  Khi đã hoàn thành xong cuộc xâm lược phía Bắc Việt Nam và đã đặt xong ách thống trị  của Thực Dân Đỏ Nga Tàu thông qua cái gọi là tập đoàn cộng sản Việt Nam.  Trong đó còn có cả những thứ gọi là “bà mẹ Việt Nam anh hùng”, để ghi công những con mụ NGU XUẨN HÁM DANH đến mức đẩy con ruột của mình ra chiến trường làm bia đỡ đạn cho cuộc xâm lược Việt Nam Cộng Hoà cho Nga Tàu, mà chính thằng tội đồ Lê Duẩn đã nói: “Ta Đánh Mỹ là đánh cho Nga Xô và cho Trung Quốc”.  Chúng dựng tượng đài đó cốt vẫn chỉ là để sử dụng cái mồi câu DANH - LỢI và Việt Gian Hoá tư tưởng một số người Việt Nam nào đó còn u mê ám chướng, để tham gia vào việc bán nước, bán dân, giết dân phục vụ cho việc bonsevik hoá cũng như Hán hoá toàn bộ đất nước Việt Nam cả thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở. 


Việc người dân bị trị Việt Nam (chắc chắn không phải là lũ trí thực ngựa, hoặc trí nô, hoặc “lão thành cách mạng”,  hoặc các loại CUỘI dân chủ nhân quyền…).  Bởi vì  nhìn vào những câu chữ viết trên cái gọi là “Tượng Đài” về lũ nguỵ quân Việt Gian Cộng Sản ở Quảng Trị thì đã cho phép chúng ta khẳng định đó là những người dân bị trị không được học hành mấy, hoặc là hoàn toàn không được học hành gì.


Chính người dân Việt Nam bị trị  đã thức tỉnh,  vì qua những câu chuyện lịch sử Việt Nam, hình ảnh tượng đài của Các Anh Hùng Giữ Nước và Dựng Nước  Mấy Ngàn Năm Của Việt Nam trước khi có cuộc xâm lược đỏ Nga Tàu trên đất nước Việt Nam, với lũ tay sai thực thi là Tập Đoàn VGCS. Những chuyện như  Đức Phù Đổng Thiên Vương, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lê Lợi,  Đức Thánh Trần, Quang Trung… đã ăn sâu trong lòng người dân lao động -nhất là nông dân-  bây giờ  ĐÃ BỘC PHÁT SAU CƠN MÊ,  vì những kỹ thuật tuyên truyền nhồi sọ  của các công cụ tâm lý chiến của VGCS  mà tập đoàn việt gian núp trong cửa chùa để hoạt động việt gian bán nước như  vụ Phật Giáo Ấn Quang và  các tổ chức  hậu duệ của chúng ngày nay đã cho thấy không còn hữu hiệu nữa. http://vntinnhanh.vn/tin-24h/soc-ve-bay-len-tranh-hoa-thuong-thich-quang-duc-o-chua-bai-dinh-3382


 Cho nên việc phỉ nhổ lên tượng đài nguỵ quân VGCS là một bước ngoặc đánh dấu sự trưởng thành của người dân Việt Nam bị trị, nó sẽ như Hoả Diệm Sơn thức dậy dù các thế lực ma quỷ nào cũng không thể cứu vãn cho được tập đoàn VGCS ,  và  chắc chắn chúng không thể nào trốn thoát  khỏi sự trừng trị đích đáng của người dân bị trị Việt Nam.


Chính Khí Việt xin giới thiệu toàn bộ những hình ảnh của chính cơ quan báo lề phải của VGCS đưa ra sau vài giòng kết luận dưới đây:


Kết Luận: Điều quan trọng là không chỉ người dân bị trị Việt Nam đã phỉ nhổ vào tượng đài của VGCS.  Điều đặc biệt là chính ngay các tổ chức VGCS của mọi cấp, mọi tổ chức, đặc biệt là lực lượng chó ngao…  cũng không thèm quan tâm tới việc tượng đài nguỵ quân VGCS  của chúng bị phỉ nhổ.  Chỉ một sự tình cờ mà một phóng viên của báo VGCS đã đưa lên…  

Chính Khí Việt (Joseph Phạm)
Ngày 25 Tháng 4, 2016


Quảng Trị: Vẽ bậy trên tượng đài 25 tỷ đồng

authorNgọc Vũ Thứ Bảy, ngày 23/04/2016 20:04 PM (GMT+7)
 

(Dân Việt) Đài chiến thắng Sư đoàn 325 Đại đoàn Bình Trị Thiên do Ban liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn 325 và UBND thị xã Quảng Trị làm chủ đầu tư. Công trình nằm trên địa bàn phường An Đôn (Thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị), sát bờ sông Thạch Hãn. Tuy nhiên, hiện nay, trên đài chiến thắng, xuất hiện nhiều chữ viết, hình vẽ bậy bạ. Điều này khiến công trình trở nên nhếch nhác, mất đi vẻ tôn nghiêm vốn có...



 

   

 
Ông Lê Công Vinh – Trưởng phòng Tài chính-Kế hoạch Thị xã Quảng Trị-kiêm Trưởng Ban quản lý công trình cho biết, dự án từ nguồn xã hội hóa do các cựu chiến binh Sư đoàn 325 vất vả kêu gọi đầu tư. Công trình được khởi công vào dịp 30.4.2012 với số tiền 25 tỷ đồng và được long trọng khánh thành hồi tháng 9.2013.
 quang tri: ve bay tren tuong dai 25 ty dong hinh anh 1
 Tượng Đài chiến thắng Sư đoàn 325 được khánh thành hồi tháng 9.2013
Tượng đài chiến thắng Sư đoàn 325 là một công trình văn hóa, lịch sử có tính thẩm mỹ cao được xây dựng trên tổng diện tích gần 2.000m2 bao gồm cả hệ thống khuôn viên cây xanh, bồn hoa, cây cảnh, đèn chiếu sáng và đường đi bộ. Các hạng mục chính của công trình bao gồm bệ đài với diện tích gần 700m2, trung tâm bệ đài là cụm biểu tượng chiến thắng với 2 mảng phù điêu, mỗi phù điêu có 2 mặt dài 12m, chiều cao gần 4m, nội dung diễn tả lại chiến thắng của Sư đoàn 325 bằng hình tượng chiến thắng với một dáng cột cao 27m. Toàn bộ hạng mục kiến trúc đã được nghiên cứu tỷ mỷ về nội dung, chất liệu và giải pháp thực hiện để công trình đạt hiệu quả cao về mặt nghệ thuật và sức biểu cảm.
Trong suốt 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Sư đoàn 325 là đơn vị chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam, đã lập được nhiều chiến công vang dội trên khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam và 2 nước bạn Lào, Campuchia. Sư đoàn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu cao quý. Tại mảnh đất Quảng Trị năm 1972, Sư đoàn 325 được giao nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng chiến đấu bảo vệ thị xã Quảng Trị và Thành Cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm máu lửa. Các chiến sĩ sư đoàn đã anh dũng chiến đấu hy sinh đến những giọt máu cuối cùng làm nên chiến thắng vĩ đại, bảo vệ mảnh đất Quảng Trị góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất tổ quốc. Từ khi công trình được khánh thành, nó trở thành điểm vui chơi văn hóa của người dân phường An Đôn và xã Triệu Thượng.
Ông Lê Công Vĩnh cho hay, Ban quản lý sẽ đề nghị phường An Đôn bố trí một bảo vệ để trực tiếp coi sóc công trình này, đồng thời tuyên truyền người dân chung tay bảo vệ công trình, không viết vẽ bậy lên tượng đài.
Một số hình ảnh Dân Việt ghi lại được tại di tích này:
 quang tri: ve bay tren tuong dai 25 ty dong hinh anh 2
Công trình này đã có biểu hiện sự xuống cấp, nhếch nhác.
 quang tri: ve bay tren tuong dai 25 ty dong hinh anh 3
Bảng miêu tả về công trình đã bị hư hại, rách nát vì nhiều tác nhân.
 quang tri: ve bay tren tuong dai 25 ty dong hinh anh 4
 quang tri: ve bay tren tuong dai 25 ty dong hinh anh 5
 quang tri: ve bay tren tuong dai 25 ty dong hinh anh 6
 quang tri: ve bay tren tuong dai 25 ty dong hinh anh 7
Nhiều bạn trẻ viết, vẽ bậy trên tượng đài làm công trình nhếch nhác
 
 

Monday, December 9, 2019

TỪ "THUYẾT LUÂN HỒI", ĐẾN KẾ HOẠCH BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG.

TỪ "THUYẾT LUÂN HỒI", ĐẾN KẾ HOẠCH BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG.
 
 
 


* "Có lờ là để bắt cá, đặng cá... hãy quên lờ. Có dò là để bắt thỏ, đặng thỏ... hãy quên dò. Có lời là để tỏ ý, đặng ý... hãy quên lời." - Trang Tử.

 * Một ngày kia, Thích Ca chỉ trăng...bảo các đệ tử: "Kia là mặt trăng, cứ ngó theo ngón tay ta thì thấy. Nhưng nên nhớ, ngón tay ta không phải là trăng. Những lời ta giảng về Đạo cũng vậy, các con cứ nghe lời ta giảng mà tìm Đạo. Nhưng nên nhớ, lời giảng của ta không phải là Đạo.

Luận về "thuyết luân hồi", đâu có khác nào "cái dò săn thỏ"...hay "ngón tay chỉ trăng". Và chỉ có thế mà thôi…

 _ _ _

Đạo Phật lan vào đất Việt thời Bắc thuộc lần thứ 3...khoảng đầu thế kỷ 3 sau Công lịch, và qua đường Ấn Độ Dương (Trần Văn Sơn - Việt Sử Toàn Thư - p.90). Có nghĩa là đạo Phật vào VN qua hai đường: Tiểu Thừa (Nam Tông) do các thầy tu người Ấn Độ đi đường biển Ấn Độ Dương vào VN, và Đại Thừa (Bắc Tông) do các thầy tu người Tàu đem vào VN.

Như thế, trải qua hơn 1.500 năm...Phật giáo VN vẫn giữ nguyên bản sắc như là một dòng tu riêng biệt, không lệ thuộc một "giáo hội" trung tâm như bên Công giáo. Các vị tỳ kheo tu hành thuần túy...không màng tới chuyện đời - không lưu tâm tới vật chất, lấy việc tu niệm làm chính. Về cuộc "đấu tranh" của đạo Phật vào năm 1963, đa số các vị tỳ kheo đức độ đã nhìn nhận Tổng Thống Ngô Đình Diệm là bậc Anh Minh - là người có công giúp cho đạo Phật phục hưng và phát triển ở miền Nam VN...nên rất nhiều tông phái không muốn lao thân vào cuộc "đấu tranh" đó.
Tuy nhiên, cho dù là một bậc thức giả...cũng khó tránh khỏi ảnh hưởng của xã hội mình đang sống, của sự nhai đi nhai lại một ý tưởng...gọi là thuật "nhồi sọ" của bọn ma tăng Ấn quang. Đó là công thức phỉnh gạt phật tử ngây thơ: "Đạo pháp và Dân Tộc" của ma tăng Ấn quang, chẳng khác gì VGCS tuyên truyền nhồi sọ người dân ít học: "Dân Tộc và chủ nghĩa xã hội".

Việt Nam là một quốc gia đã chịu đựng thảm họa CS chính thức được 65 năm (từ 1954). Cái thảm họa này...mọi thành phần dân tộc đều cùng chia phần gánh chịu. Riêng Phật giáo phải gánh phần...có thể nói là nặng nề vượt trội, bởi kế hoạch BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG của bọn ma tăng Ấn quang. Việc BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG này, đã gây những thiệt hại trước mắt cho những người tu hành - những phật tử chân chính...cũng như những di hại về sau mà họ phải chịu đựng, sau khi chế độ VGCS không còn tồn tại trên đất nước.

Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ nêu và dẫn chứng Phật-giáo VN làm điển hình. Bởi đảng VGCS đang suy tôn tên đại việt-gian Hồ chí Minh như một anh hùng Dân Tộc, sánh vai với những Trần Hưng Đạo - Quang Trung - Lê Lợi...và tôn thờ HCM như bậc Bồ Tát, tạc tượng đem vô chùa để Phật tử chiêm bái và thờ cúng...ngang hàng với Thích Ca.

Các tôn giáo khác thiết tưởng...không nhiều thì ít cũng đều chịu chung số phận như thế cả. Bởi muôn ngàn biện pháp tinh vi và ma giáo, đã được VGCS xử dụng...cốt để biến đổi bản tính các tôn giáo thành thứ TÔN GIÁO VỤ.

Do đó, chúng ta phải biết mọi chủ trương và nguyên nhân...để phân biệt rõ mọi khía cạnh của vấn đề, thì ta mới hiểu được sự tinh vi - tàn bạo và vô luân của bọn ma tăng Ấn quang.

 1. Chủ trương

Chủ trương phá Đạo để BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG là bọn ma tăng Ấn quang - tiền thân của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ngày nay. Hầu hết chúng đều là đảng viên VGCS, một số ma tăng đã len lỏi lên tới hàng ngũ cao cấp trong Giáo Hội Phật giáo Ấn quang...cũng như có chức vụ rất cao trong trung ương đảng VGCS như: Đôn Hậu - Trí Quang - Nhất Hạnh - Quảng Độ..v.v..Do đó, chúng dễ dàng phỉnh gạt Phật tử ngây thơ từ "thuyết luân hồi" sang thuyết tiến hóa...nhằm đưa đẩy hàng ngàn đồng bào Phật tử vào chỗ chết, mà còn phải cám ơn bọn chúng.


Chủ nghĩa cộng sản duy-vật...thực-sự không phải là chối-bỏ thần-tượng, mà là biến thành một thứ TÔN-GIÁO VÔ-THẦN cực-kỳ cuồng-nhiệt. Học thuyết của Marx sở dĩ bị xem là ngụy-thuyết (hérésie), là vì nó không đúng với sự thật...bám vào thuyết tiến hóa, nên sinh ra cuồng-tín. Mà cuồng-tín...bất cứ là cuồng-tín loại nào, cũng đều là thứ tai-họa khủng-khiếp nhất cho nhân-loại ngày nay!

Lý thuyết này đã có từ lâu đời, đến thế kỷ 18 được Marx hệ thống lại...và Lenin triển khai thực hành, biến nó thành vũ khí chính trị để đấu tranh cướp chính quyền. Ta hãy nghe những ông tổ CS này nói về tôn giáo. Marx nói:

 - "Tôn giáo là thuốc phiện của loài người". Và Lenin:

- "Hàng triệu hành động bẩn thỉu nhất, hành vi bạo tàn nhất - bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất...vẫn không nguy hiểm bằng những ý niệm về thần linh, và về thượng đế...được bao che bằng cái áo lý tưởng khôn ngoan nhất".

Sự-thể cho ta thấy...việc "biến tính tôn giáo" (religious transmutation), hay "tiêu diệt tôn giáo" của bọn việt gian cộng sản (VGCS) là một giáo-điều...nằm trong một học thuyết phi tôn giáo, phủ nhận mọi tín ngưỡng - chối bỏ mọi ý thức về tôn giáo nơi con người...và coi mọi tôn giáo là kẻ thù cần phải tiêu diệt. Tuy nhiên, VGCS áp dụng đường lối này...hoàn toàn khác xa với các quốc gia có tín ngưỡng trên thế giới, theo đúng đặc tính lưu manh - xảo trá - quỉ quyệt của một bọn tay sai tôn thờ ngoại bang Tàu cộng hiện nay.

 * "Một xã hội vô thần, không bao lâu sau...sẽ tạo ra một tôn giáo khác" - Honoré de Balzac.

2. Nguyên nhân

Thật đáng tiếc cho người đứng ra sáng lập Phật giáo, suốt một đời thuyết pháp...Ngài không hề lưu lại một chữ nào! Người đời sau muốn nghiên cứu giáo-thuyết của Ngài...không biết lấy đâu làm căn cứ! Bởi thế, sau khi Ngài nhập-diệt...các tín-đồ chia ra làm hai phái: phái "bảo-thủ" (đại thừa) và phái "cấp-tiến" (tiểu thừa).

- Phái "bảo-thủ", lo ghi lại một cách hết sức trung thành từng lời nói của Ngài.

- Phái "cấp-tiến", thì bất-chấp "văn-tự" (danh từ)...chỉ lo tìm hiểu thêm những "ẩn-ý thâm trầm", mà trong hoàn cảnh và căn-trí của chúng sinh thời đó...chưa cho phép Ngài thố lộ?

Ôi! Danh từ chỉ là danh từ, và chỉ là danh từ mà thôi. Thảo nào Lão Tử đã chẳng nói: "Trí giả bất ngôn, Ngôn giả bất trí" (Biết, thì không nói - nói, thì không biết). Cảnh giới Chân Như...không phải là chỗ ngôn ngữ văn-tự có thể bày tỏ ra được, bởi thế Thích Ca sau khi thuyết pháp xong...liền phủ định công việc thuyết pháp của mình. Ngài nói:

 * "Ta đã ròng rã bốn mươi chín năm thuyết pháp, nhưng chưa từng nói một lời nào"!

 Sở dĩ Thích Ca trịnh trọng tuyên bố như thế, là vì không muốn cho chúng sinh sa vào cái lầm NHẬN NGÓN TAY CHỈ TRĂNG, LÀ MẶT TRĂNG. Thật vậy, nếu cái hay của việc dùng đúng danh từ...là giúp cho tinh thần ta giải thoát ra khỏi cái vòng hỗn độn của nội-giới - cái hỗn-loạn của ngoại-cảnh như Jules Payot nói: "Tư tưởng và lời nói là một sự giải phóng". Thì cái dở của danh từ là...nó sẽ nô lệ tinh thần ta một cách gắt gao, nếu ta để cho nó hội-họp với tính lười biếng - kiêu căng và hung dữ của ta.

Vấn đề phân chia Tiểu thừa và Đại thừa của một Giáo-lý cao siêu, quả thật là rất giả tạo. Do đó, họ luôn chống báng nhau...Tiểu thừa tự nhận mình là "Phật giáo nguyên thủy", cho rằng Đại thừa không phải là giáo lý chính thống của Thích Ca...và luôn gọi họ là "những đứa con hoang"? Trong nhà Phật có chuyện ngụ ngôn như vầy:

 * Có một ông nhà giàu, tuổi đã già. Nhà cửa ông rộng lớn...sức chứa được nhiều người, trong số đó có các con của ông. Nhưng nhà...đang bị lửa cháy, mà cửa thì nhỏ bé quá, và chỉ có một cánh thôi.
Ông lão đứng ngoài...lo sợ cho các con ông, muốn vào cứu chúng...nhưng nhớ lại cửa nhỏ, sợ không sao đem chúng ra được hết...vì chúng sẽ giẫy giụa! Trong lúc ấy, các con ông cứ nô đùa...mặc cho tai họa và cũng không chịu ra, vì họ không biết sợ lửa - sợ chết thiêu là gì cả! Ông bèn lập kế...kêu to:
- Các con ơi! Cha có đồ chơi đẹp lắm, nào là xe dê - xe hươu - xe bò...chiếc nào cũng trang sức lộng lẫy. Đứa nào ra, Cha cho! Các con nghe vậy, kéo nhau chạy ra khỏi nhà đang cháy...nhưng ông lão chỉ cho một chiếc xe bò thôi!

Ông lão đây là Thích Ca, các con là chúng sinh. Lửa cháy là lòng tham dục nung đốt chúng sinh. Ba xe, tức là ba "thừa"...hay còn gọi là ba bậc tu hành: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Khi còn tùng quyền, sở dĩ Thích Ca chia giáo-pháp của Ngài ra làm ba bậc là vì...chúng sinh đang mê sống trong cảnh "dục giới" (monde sentimental, émotionnel), "sắc giới" (monde physique) và "vô sắc giới" (monde de la conscience, de la conceptualisation), nên Thích Ca không thể đem Chân lý - cái tri-kiến của Ngài ra mà dạy ngay được.

Nhưng cho dù Thích Ca có đem cái tri-kiến của Ngài ra mà dạy...cũng chẳng có ai hiểu nổi mà dạy, bởi cái tri-kiến của Ngài...là cái tri-kiến đã vượt qua ngoài ba giới nêu trên. Bởi thế, bọn ma tăng Ấn quang đã lợi dụng cái tri-kiến cao siêu đó của Thích Ca...mà mưu cầu vinh quang cho riêng chúng, bởi không ai hiểu rõ được Giáo-lý của Thích Ca...thì càng tốt!

Thật vậy, có lẽ những điều đồng bào Phật tử trong và ngoài nước hiện nay hiểu về Phật-học*...chỉ là nghe được lời Thích Ca từ miệng của những kẻ đầu cạo trọc - khoác áo cà sa - ăn chay, rồi tụng kinh niệm Phật. Và kết cục là đồng bào Phật tử đã bị lẫn lộn giữa những lời của Thích Ca...thành những lời của bọn ma tăng Ấn quang, ấn vào miệng Thích Ca.
 
Có lẽ vì thế...mà rất nhiều chùa từ trong nước ra hải ngoại, ảnh-tượng HCM bắt buộc phải có...và phải được đặt nơi trang nghiêm nhất trong chùa. Tuyệt nhiên, không thấy có một "tăng thống" - "đại đức" hay "thiền sư" nào ép Phật tử đem bàn thờ Phật xuống đường...hoặc đem đồng đạo ra thiêu sống để tạo ra bạo loạn, phản đối việc HCM biến thành "bồ tát"!

(Phật-học, là ám chỉ học thuyết của Nhà Phật...thiên về phần "triết học", còn Phật-giáo là ám chỉ giáo-lý của Phật...được hệ thống hóa bằng tín-điều.)

Nếu ai đó cho rằng chúng tôi luận thiên về Đại thừa, nghĩa là phủ nhận "thuyết luân hồi" của Tiểu thừa? Nhận xét ấy có lẽ đúng, bởi vì cho dù là Tiểu thừa hay Đại thừa...thì Phật học bao giờ cũng đi đến mục tiêu chính, nghĩa là dẫn đến Phật thừa. Còn nếu có kẻ cho rằng...chỉ có Tiểu thừa (hay Phật giáo nguyên thủy) là hành động đúng với giáo-lý Thích Ca, thì chúng tôi xin nhường lời lại cho một học giả phương Tây Jacques Bacot (1877-1965) trả lời:

 - Cái hay nhất trong giáo lý Thích Ca...là những chỗ mà Ngài làm thinh, nghĩa là những chỗ mà sự Im Lặng có nhiều ý nghĩa hơn là lời nói. Nếu ta tóm thu lại tất cả những gì mà trong các Kinh sách...cho là những lời nói của chính miệng Ngài thốt ra, như Tứ diệu đế - Bát chánh đạo - Thập Nhị Nhân Duyên, thì phải thú thật rằng...nếu chỉ có bao nhiêu đó mà thôi, thì quả là không có gì xuất sắc lắm...không đủ chinh phục thế giới.

- Những thắc mắc được nêu lên...nhưng còn lưng chừng chưa được giải đáp lúc Ngài nhập diệt, đã được người ta nghe theo...nhiều hơn những giải đáp của Ngài lúc sinh tiền (...) Và nhân đó mà phát sinh ra Đại thừa, những tông phái của các bình giả về sau…

 - Le meilleur de l'enseignement du Bouddha est ce qu'il tait, là où le Silence signifie plus que les paroles...si on condense se que les Sutras nous donnent comme sa parole: les Quatre Vérités, les Huit Chemins, les Douze Causes, it faut avouer que rien de tout cela n'est très saisissant, ni n'aurait suffi à conquérir le monde.
L'appel des questions restées en suspén au moment de la mort du Maitre a été plus entendu que les réponses données de son vivant (...) d' où nait le Mahayana ou les bouddhismes des commentateurs... (Jacques Bacot - Le Bouddha - p 40-41)

 * Lược sử Phật Thích Ca

 - Thích Ca tên là Siddhârtha - họ Gautama, sinh vào thế kỷ 6 trước Tây lịch ở phía Bắc Ấn Độ. Cha là Suddhodama, trị vì dân tộc Sakya*...còn mẹ là hoàng hậu Mayâ. (dân tộc Sakya ngụ tại một phần đất xứ Nepal ngày nay, dưới chân núi Himalaya)

Năm mười sáu tuổi...Thái tử lấy vợ là nàng Yasodhard, và sống cực kỳ sang trọng trong cung điện. Nhưng thiên-tính Thái tử đa sầu - đa cảm, khi nhận thấy thực-trạng thống-khổ của đời người chung quanh mình...bèn quyết tâm đi tìm phương cứu khổ cho bản thân và nhân loại. Lúc Thái tử bỏ nhà ra đi...chính là lúc vợ vừa hạ sinh đứa con trai đầu lòng và duy nhất, Râhula. Bấy giờ, Thái tử vừa tròn hai mươi chín tuổi.

Sáu năm ròng rã, ông lang thang đây đó ở khắp thung lũng sông Hằng để cầu Thầy học Đạo...và theo đủ mọi cách khổ hạnh, cùng tu luyện của hầu hết các môn phái truyền thống...mong tìm giải thoát. Nhưng không thỏa mãn, ông bỏ hết các giáo phái truyền thống kia đi...và tự mình đi tìm Chân Lý.

Một đêm...đang ngồi trầm-mặc dưới gốc cây bồ đề, ông hốt nhiên Đại-ngộ. Bấy giờ, ông mới vừa ba mươi lăm tuổi. Từ đó...người ta gọi ông là Phật, nghĩa là NGƯỜI GIÁC NGỘ - giác ngộ được cái nguồn gốc của Đau Khổ và Sinh Tử.

Sau khi Đắc Đạo, Thích Ca thuyết pháp lần thứ nhất ở Cấp Cô độc viên gần thành Bénarès...cho 5 nhà tu khổ hạnh - những người bạn cũ cùng đi tìm Đạo như Ngài. Ròng ra suốt 49 năm, Thích Ca không ngớt đem cái đạo diệt khổ...giảng cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt nam-nữ-già-trẻ...hay giai cấp sang-hèn gì cả.

Thích Ca nhập-diệt năm tám mươi tuổi, ở Kusinârâ.

 
Đó là đại cương những nét chính...mà truyền thuyết đã nói về tiểu sử của Thích Ca, bất luận là giáo phái nào của Phật giáo đều cũng chấp nhận...cho dù là tiểu thừa hay đại thừa. Dĩ nhiên chung quanh những nét chính này, về sau các đệ tử thêm thắt vào nhiều chi tiết...có khi hoang đường - thần bí, hoặc để tô điểm cũng có - hoặc lấy đời sống của Ngài làm tượng trưng...cho những điểm đặc biệt nhất trong Phật-học. Đó là cái lệ chung của những hậu sinh, đối với những bậc vĩ nhân tiền bối...mà mình tín ngưỡng sùng bái!

Trong khoa học, người ta có thể biến hướng dòng chẩy của một con sông theo ý muốn của con người...để làm lợi cho kinh tế. Chánh sách tôn giáo của VGCS cũng thế, biết không thể duy trì việc nắm giữ quyền lực được lâu...VGCS lèo lái Phật-giáo VN đi theo con đường chúng vạch ra, để BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG. Đây là con đường bảo đảm nhất cho tập đoàn VGCS chạy tội trước lịch sử...để được trường tồn.
Ta hãy nhìn kỹ hoạt động của bọn tăng-ni quốc doanh trong nước sẽ rõ, chúng đang "tẩy não" thế hệ trẻ - sinh viên học sinh...bằng cách bóp méo lịch sử Việt Nam, sao cho lẫn lộn với lịch sử của Phật giáo Ấn quang. Chúng phỉnh gạt Phật tử và đồng bào cả nước rằng...Phật giáo đã mở và dựng nước từ thời Luy Lâu, nghĩa là từ hơn hai ngàn năm trước...phủ nhận luôn cả Tổ Tiên Hồng Lạc! Bộ máy tuyên truyền Phật Giáo Việt Nam  (Quốc Doanh) cũng như GHVNTN (Ấn Quang) ở hải ngoại cũng đang phụ-họa bằng cách...đào mồ chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chửi bới Công giáo, đồng thời khéo léo khoe kín thành tích của VGCS.


Có nhiều hình thức thiệt hại khác nhau do Phật giáo quốc doanh cũng như PGVNTN gây ra...cả trong và ngoài nước, nhưng chúng ta có thể xếp gom lại trong ba lãnh vực sau: sinh hoạt, giáo-lý và lãnh đạo. Những thiệt hại trong lãnh vực sinh hoạt, có thể gọi là dạng ngắn hạn...vì dạng này có thể phục-hoạt trở lại chỉ trong thời gian ngắn, khi chế độ VGCS sụp đổ. Trái lại, những thiệt hại trên hai lãnh vực giáo-lý và lãnh đạo được xếp vào dạng dài hạn...vì đó là những di hại có thể nói là truyền đời, không thể phục hồi trong một vài năm hoặc vài chục năm...thậm chí hàng trăm năm. Sau đây, chúng ta xem xét những thiệt hại dài hạn đó...trên từng lãnh vực:


- Giáo Lý


Cuộc đời của Phật Thích Ca, có thể gọi là cuộc đời điển hình cho những ai đi tìm giải thoát (niết bàn). Hơn nữa, nó cũng chứng minh một cách linh động và hùng hồn...hơn tất cả các Kinh luận của Phật-pháp, và tóm gọn trong ba điểm chính sau đây:


1. Đại hùng: dám dứt bỏ ngôi vị cao sang tột bực, cả những quyến rũ xác-thịt để đi tìm con đường giải thoát!


2. Đại lực: không ỷ lại vào bất cứ thế lực nào, hoặc một bậc chân sư nào...để cầu chỉ dẫn, mà tự lực đi tìm giải thoát!


3. Đại bi: suốt đời chỉ cầu giải thoát đau khổ cho toàn thể nhân loại, cho đến hơi thở cuối cùng!


Thích Ca thường căn dặn các vị tỳ kheo...không nên tin tất cả những lời Ngài nói, mà phải tự mình xét lại...chừng nào nhận thấy chắc chắn có giá trị, thì mới nên theo. Quả thật, đây cũng là một lối Hoài Nghi...mà René Descartes( 1596-1650) gọi là Hoài Nghi triết học - double philosophique. Bởi, mục đích của Phật-học là CHUYỂN MÊ KHẢI NGỘ...nghĩa là thoát ra khỏi mọi lề lối suy-tư thông thường để "đáo bỉ ngạn" (paramita), đến "bờ bên kia". Trong Bible cũng nói tương tự:


* Quả thật, ta nói cùng các ngươi...nếu các ngươi không trở  lại nên và nên như đứa trẻ, thì chẳng được vào nước thiên đàng đâu [Matthew 18:3].


Giác Ngộ theo cái học nhà Phật, nếu không dùng đến hoài nghi triết học...thì không tài nào thoát khỏi cái nhìn quen thuộc trước giờ của ta đối với sự-vật. Ta phải biết nhìn sự-vật với cặp mắt...thấy gì cũng đều mới và lạ (Platon). Một nhà tư tưởng cao nhất như Thích Ca, không phải là kẻ ru ngủ chúng ta với những thành kiến muôn đời...mà là kẻ làm cho ta tỉnh ngộ, khêu gợi cho ta thấy những vật rất tầm thường trong đời...mà hằng ngày bị thói quen, làm cho ta không để ý.


* (HOÀI) NGHI LỚN THÌ GIÁC NGỘ LỚN - NGHI NHỎ THÌ GIÁC NGỘ NHỎ - CHẲNG NGHI THÌ CHẲNG GIÁC NGỘ. Dighe-nikàya, ed. Nànàvàsa Théra (Trường A Hàm) trang 239 (Colombo, 1929)


Như thế, Hoài Nghi theo Phật-học là để cho ta nhìn bằng cặp mắt của ta - nghe theo lỗ tai của ta...chứ không nhìn theo cặp mắt kẻ khác, nghe theo lỗ tai kẻ khác. Tóm lại, ta cần phải Hoài Nghi và xét lại tất cả những gì...mà từ trước đến giờ ta cho là phải, ví như "thuyết luân hồi"...mà trong Kinh bảo là của Thích Ca dạy! Chính lúc Thích Ca gần tịch, Ngài căn dặn các đệ tử rằng..."hoài nghi là để đừng còn có gì hoài nghi nữa cả".


Thật vậy, vấn đề quan trọng nhất của Phật-học được quy vào MÊ và NGỘ. Dù Tiểu thừa hay Đại thừa, mục đích của Phật học không ngoài hai chữ "giải thoát". Nhưng quan niệm này của Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau. Tiểu thừa phủ nhận "giải thoát" trong hiện hữu, nghĩa là khi ta tu Định (thiền Định)...chấm dứt mọi dục-vọng, chỉ là phương diện tương đối và tạm thời. Và ta phải "luân hồi" đến mãn kiếp...khi mà "ngũ căn" (nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, vị căn, và thân căn) bị tận diệt, thì mới vào được Niết bàn?


Bởi thế trong Phật giáo Tiểu thừa mới có sự tự thiêu, hay thiêu thân sau khi chết...để chấm dứt các "ngũ căn" nêu trên, là nguồn gốc của mê-vọng. Vậy thì...việc các tăng ni của Phật giáo Ấn quang tự thiêu thời Đệ Nhất VNCH, hay đem đồng đạo (Thích quảng Đức) ra thiêu sống để tạo ra bạo loạn...phản đối chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm, là tận diệt "ngũ căn" sao? Theo thiển ý, "tự thiêu" trong giáo lý của Phật giáo Tiểu thừa...đâu phải là con đường đưa đến sự "diệt Ngã", mà nó càng làm cho Bản-Ngã thêm phì-đại mà thôi!


Theo thuyết tiến hóa của chủ nghĩa cộng sản duy vật, con khỉ phải sinh-tử hàng triệu năm tiến hóa...mới thành con người như ngày nay. Thế thì giáo lý căn bản làm nên Phật-pháp của Phật giáo Tiểu thừa là "thuyết luân hồi", cũng trùng hợp ngẫu nhiên với thuyết tiến hóa sao? Cho dù có thiện-nghiệp*, con người cũng phải tái sinh vào các cảnh giới..(sẽ tái sinh thành một con thú, thậm chí côn trùng nếu ác-nghiệp) mới phá tan được nghiệp chướng, mà chấm dứt được sinh-tử và thoát khỏi "thuyết luân hồi" để vào Niết bàn...thành Tiên, thành Phật ư?



(* nghiệp bao gồm tự nghiệp và cộng nghiệp: tự nghiệp là cái nghiệp của riêng mình gây ra phải gánh chịu, còn cộng nghiệp là của tất cả mọi người cùng sống chung một hoàn cảnh - một bè phái - một đoàn thể - một xã hội - một quốc gia với mình...nên mình cũng phải gánh chịu!) 


Nói đến "thuyết luân hồi", Phật giáo Tiểu thừa thường quan niệm có một cái TA đặc biệt...chuyển từ kiếp này sanh kiếp khác để chịu đau - chịu khổ, như kiếp dân Việt bị trị hiện nay - hoặc để hưởng thụ phú quý-giàu sang, như kiếp đảng viên VGCS. Họ quan niệm một cái Ta (bản-ngã) trường cửu như thế...quả thật là hoàn toàn giả tưởng, nếu không muốn nói là TÀ ĐẠO hay tu ÁC ĐẠO! Chính vì thế mà Pascal mới thốt ra câu nói chua-cay:

* CÁI TA RẤT ĐÁNG GHÉT.


 Chính CÁI TA là nguyên nhân duy nhất phát sinh những thứ tình cảm và tư tưởng ích-kỷ, những tham-dục vô bờ-bến - những quyến-luyến đam mê..v.v..Chính nó là nguyên nhân của các cuộc xô xát ác liệt giữa người và người. Ta có thể kết luận rằng, tất cả mọi đau khổ trên đời này...đều do cái quan niệm sai lầm của "Ngã Kiến", nghĩa là "thấy có TA" mà ra cả.
Để được bảo vệ, CÁI TA mới chuyển từ kiếp này sang kiếp khác. Hay nói cách khác, "thuyết luân hồi" do Bản-Ngã tạo ra...chỉ để tự phỉnh, hoặc để tìm cách tự an ủi và thỏa mãn khát vọng được thành Tiên - thành Phật. Sở dĩ, người dân Việt trong và ngoài nước mê say Phật giáo Việt Nam (Quốc Doanh) hoặc PGVNTN ở hải ngoại...nghĩa là để thõa mãn cái lòng lo sợ bị tiêu diệt của Bản-Ngã, Do đó, họ rất sợ khi nghe ai nói những gì...nghịch với lòng ao ước của họ.
 
Phật-giáo nguyên là một học thuyết VÔ NGÃ, nhưng sau khi Thích Ca nhập-diệt...nó đã biến thiên thành một giáo lý "hữu ngã" và mong cầu phúc báo*. Các đệ tử của Ngài bám vào "thuyết luân hồi"...để mong được kéo dài sự trường-tồn của Bản-Ngã. Hay nói một cách khác, họ không chấp nhận thuyết Vô Thường và Vô Ngã...để cầu thoát khỏi cảnh "luân hồi giả tưởng" đó!

* Thay vì "diệt Ngã", họ lại đem "thuyết luân hồi" ra để mong cầu "thành quả" cao thấp...do tạo được "thiện-nghiệp" nhiều hay ít, và phúc báo sau này là...được tận hưởng phú-quý cùng tất cả khoái lạc trong đời. Tuy nhiên, Thích Ca có nói như vầy:


- CÁI DÂY XÍCH BẰNG SẮT HAY BẰNG VÀNG, NÓ VẪN LÀ DÂY XÍCH. Nghĩa là...nếu ác-nghiệp là cái dây xích bằng sắt, thì thiện-nghiệp là cái dây xích bằng vàng...tất cả đều không thể dùng để đi đến giải thoát!


Bởi thế...tín đồ Phật giáo càng ngày càng đông, thì giáo-lý của Thích Ca càng ngày càng bị hạ thấp và xuyên tạc bởi bọn giả-hình. Họ cố kéo dài đời sống Bản-Ngã của họ bằng cách...chuyển từ kiếp này sanh kiếp khác! Carlo Giuseppe Suarès (1892–1976) gọi đó là CÁI TRÒ HỀ CỦA BẢN-NGÃ (la comédie du moi). Ông nói tiếp: MỘT CÁI "TA" MÀ TO LỚN ĐẾN BỰC NÀO, VẪN LÀ BẢN-NGÃ (un moi prolongé à l'infini reste toujours un moi, c'est toujours une illusion).


Phải chăng, đó là định mệnh của một Giáo-lý cao siêu, vượt hẳn cái tầm hiểu biết của đại chúng? Thế nhưng, nó lại là đắc-thời cho hạng người đầy tội lỗi...đang chiếm những địa-vị đầu não trong tín ngưỡng của xã hội! Quả thật, bọn việt cộng đội lốp thầy tu này...chuyên sống nhờ vào đồ dâng cúng của thập-phương, nhưng chúng lại ngồi trên những địa-vị tối cao dành riêng cho kẻ cầm cân Công-lý!


2. Lãnh đạo


Với định nghĩa: Phật-học thiên về triết học - Phật-giáo thiên về tôn-giáo, nên giáo-lý của Thích Ca không hẳn là triết học...mà cũng không hẳn là tôn-giáo, mà là cả hai. Do không hẳn là tôn giáo, nên Phật-giáo cũng không có "giáo-hội"...mà chỉ có những tu hội, để quy tụ những người đồng một chí hướng về giáo-lý của Thích Ca trong một tu viện hay một ngôi chùa.


Vì thế, chữ "giáo-hội" trong Phật-giáo cả trong và ngoài nước XHCNVN là "mượn" của Đạo Thiên Chúa: "Ecclesia, Église, Church (Mat.16,19)". Nhưng Phật-giáo quốc-doanh chỉ mượn được "sắc tướng" thôi, còn về bản chất thì họ ru ngủ chúng sinh...tiến hóa thành Tiên - thành Phật làm căn bản giáo-lý, nhằm "đoàn ngũ hóa" và "nô lệ hóa" họ theo cái gọi là "phật-giáo đổi mới". Chúng ta hãy đọc một đoạn ngắn trong bài "Đến Sài Gòn từ Thuận Hóa, Thăng Long và Luy Lâu - Giao Điểm số 30, Hè 1998", do tên Lê Hiếu Liêm viết: 


- "...Trong suốt 2,000 năm qua, dù Phật giáo lúc nào cũng là tín ngưỡng của đại đa số nhân dân, lúc nào cũng là tôn giáo lớn nhất của đất nước, nhưng chỉ trong những thời thịnh đạt huy hoàng nhất, Phật giáo mới trở thành quốc đạo của Việt Nam, đó là trong các thời Sĩ Nhiếp – với thủ đô Phật giáo Luy Lâu (Hà Bắc) – đây cũng là thủ đô chính trị – văn hóa toàn cõi Lĩnh Nam vẫn còn là một cõi chạy dài từ hồ Động Đình, đến Hoành Sơn – thời Lý Nam Đế, với tên nước là Vạn Xuân và với chùa Khai Quốc, thời Lý Trần – thời kinh thành Thăng Long được khai sinh – bởi một quân vương Phật tử Lý Công Uẩn và bóng dáng kỳ vĩ của đại sư Vạn Hạnh, và thời các chúa Nguyễn trong buổi đầu lập quốc thời thành phố Sài Gòn được chính thức chào đời..." Ngưng trích.


Các tăng-ni trong nước lẫn hải ngoại nghe "lịch sử Phật-giáo VN" này xuôi tai và hấp dẫn...vì họ đã được VGCS chiều theo thị dục-thị hiếu, cốt để ru ngủ lòng tự-đắc của họ...với thâm ý được thiên hạ xem mình như bậc Tiên-Phật, đã làm được những việc "phi thường" khác hẳn loài người…ví như trái tim "bồ tát" Thích quảng Đức vẫn còn y nguyên, dù thân xác được đốt bởi 4000 độ trong 10 giờ? 


Mưu-đồ "tẩy não" thế hệ trẻ qua việc đồng hóa giá trị lịch sử VN với Phật-giáo quốc doanh - công cụ của đảng VGCS, đã cho ta thấy...GHPGVNTN quả thật là một tổ chức ngoại vi của đảng VGCS ở hải ngoại, nên chúng ta có thể hiểu nhân sự lãnh đạo tổ chức này là của Tổng Cục Phản Gián VGCS. Người Mỹ ra vẻ ủng hộ bọn cò mồi này...với những tổ chức "chống cộng ma" - "kháng chiến ma" - "chính phủ ma", chỉ nhằm làm "đối lập" chính trị theo "dân-chủ đa nguyên" kiểu Mỹ. Và với kế hoạch BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG này, GHPGVNTH sẽ cứu sống được nhân sự của đảng VGCS...nếu xẩy ra "diễn biến hòa bình" trong tương lai.


Không phải đến bây giờ...VGCS mới có sáng kiến cấy người vào Phật-giáo ở cộng đồng tỵ nạn để lũng đoạn và sai khiến. Ngay từ thời chiến tranh chống Pháp, đại việt gian Hồ Chí Minh đã làm việc này rồi! Tên đại tướng VGCS Văn Tiến Dũng đã từng cạo đầu, khoác áo cà sa...giả làm tu sĩ trong chùa! Một tên VGCS gộc khác là Trần Ðống Long (Thích thanh Tứ-1927) quê ở Hưng Yên, cũng từng "đi tu" tại chùa Ðống Long...và biến chùa này thành nơi cất giấu vũ khí chống Pháp!


Những tay họ "thích" như Đôn Hậu - Nhất Hạnh - Trí Quang - Quảng Độ..v.v..đã được đào tạo bên Nga-xô - Tàu cộng(1), từ thời bọn VGCS chưa về Hà-nội...và dĩ nhiên, những tay họ "thích" này sẽ là nòng cốt của "quốc đạo" như bài báo nêu trên. Hàng ngũ "tăng thống" quốc doanh này...càng ngày càng gia tăng về con số, và phương pháp nắm các chùa chiền từ trong nước ra hải ngoại của VGCS...không khác gì lối chăn cừu của người Âu châu. Người chủ trại chỉ cần xử dụng dăm ba con chó săn...là có thể yên tâm thả hàng ngàn con cừu ra đồng cỏ. Ở hải ngoại cũng thế, quốc gia nào có người Việt cư-ngụ...chỉ cần dăm ba "tăng thống" quốc doanh nắm giữ những chức vị then chốt, là đâu vào đấy ngay!


VGCS cài người vào hàng ngũ lãnh đạo của cộng đồng tỵ nạn là một công tác trường kỳ, nên việc tuyển chọn - đào tạo mới các "tăng thống" để nắm lớp lãnh đạo trẻ trong tương lai...cũng khôn khéo như chính sách "cây gậy và củ cà rốt", chẳng thua gì người Mỹ cả! Cây gậy luôn để trên người, nếu ngoan ngãn nghe lời...giữ im lặng về những xa-hoa trụy-lạc của các "tăng thống" quốc doanh trong nước, thì sẽ được ăn (xuất ngoại). Trong vấn đề này, ta phải nhắc đến "đại lão hòa thượng" Thích Minh Châu cùng tập thể "đảng bộ" Vạn Hạnh...đã được cử sang Tây Tạng và Ấn Độ để học về Phật-học khoảng năm 1984, trong chiến dịch xóa tên quốc doanh với cộng đồng tỵ nạn.


Ai cũng biết rằng năm 1963, khi đất nước đang chiến tranh loạn lạc. Chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã hết sức bảo toàn độc lập của tổ quốc, và hạnh phúc - tự do cho dân tộc Việt. Ấy vậy mà những kẻ tự xưng là "người tu hành" như Minh Châu - Đôn Hậu - Trí Quang - Nhất Hạnh..v.v..đã ép phật tử xuống đường, đòi giật sập cho được cái thể chế độc lập ấy.

 
 


Không những ép các phật tử xuống đường biểu tình, bọn ma tăng Ấn quang này còn mang đồng đạo ra thiêu sống để tạo nên bạo loạn...mà chúng gọi là "hy sinh vì đạo pháp" - là "cúng dường Tam bảo" - là "bồ tát"...thiết nghĩ ngày nay cũng thế! Để kết thúc bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến vấn đề tu "thiện-nghiệp" ngày nay...mà đa số người đang theo đạo Phật cho là một giai đoạn của Phật-thừa!


Ngày nay, họ vẫn "cúng dường Tam bảo" - chung sức góp tiền xây chùa - tham gia hội-đoàn làm từ thiện..v.v..và cho đó là tu "thiện-nghiệp" để cầu phúc báo hoặc phá trừ "ác-nghiệp"? Họ đã lầm...và lầm rất to! Ngoài việc họ chỉ làm giàu cho bọn VGCS, họ đang sa vào TÀ ĐẠO và ÁC ĐẠO mà không hay! Bởi họ đã gián tiếp hạ thấp và xuyên tạc giáo-lý Thích Ca, giúp kế hoạch BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG của VGCS thực hiện được êm thắm và tinh vi...biến Phật-giáo thành một công cụ nô dịch tinh thần đối với toàn bộ người Việt từ trong nước ra đến Hải Ngoại.


Vấn đề "thiện-nghiệp" hay "ác-nghiệp, hay còn gọi là Thiện-Ác...theo nhà Phật là căn cứ vào Lợi và Hại. Thích Ca có nói như vầy:


* "Lợi cho tất cả, gọi là Thiện. Lợi cho mình mà hại cho người...đó là Ác."


Như thế, việc "cúng dường Tam bảo" - góp tiền xây chùa - làm từ thiện..v.v..chỉ là Lợi cho "thiện-nghiệp" của mình, nhưng đó là một hình thức khác của "ngã chấp"...nghĩa là lòng chỉ nghĩ có mình (autre forme subtle de l'égotisme). Một cái "Ngã" dù to lớn, tốt đẹp bao nhiêu...vẫn là "Ngã", cũng như một sợi dây xích bằng vàng...nó vẫn là dây xích.


Với tiêu chuẩn trên đây, ta cũng có thể hiểu được...thế nào là Thiện-Ác theo nhà Phật. Ví như có kẻ làm đau đớn người mà không phải Ác...như dùng lời châm chích chạm lòng tự-ái, nhưng với dụng-tâm làm cho người tỉnh ngộ...tức là trường hợp của Dương Lễ đối xử với Lưu Bình ngày xưa. Trái lại, có kẻ an-ủi xoa-dịu cho người mà không phải Thiện. Như trường hợp ru ngủ lòng tự đắc kẻ khác, bằng những lời khéo léo đề cao Bản-ngã của họ...cốt để nuôi dưỡng lòng tự cao - tự đắc của họ, thì chưa chắc là người nhân.


 _ _


Phần đông người trong thiên hạ, đều muốn được người ta giảng cho nghe những gì họ thích...thuận với lòng nguyện ước của họ, hơn là những giáo-lý không thỏa được lòng mong mỏi đợi chờ của họ.


Chính vì thế mà Thích Ca cảm thấy DO DỰ...sau khi Ngài Đắc Đạo, không rõ có nên đi truyền-bá cái Chân Lý ấy cho người đời trong thiên hạ không? Bởi, cái Chân Lý mà Ngài sắp đem truyền-bá...là cái Chân Lý Vô Ngã, người trong thiên hạ...ai mà chịu nghe chứ? Giả sử mà có ai nghe...cũng chẳng hiểu nổi, bởi nó quá tầm hiểu biết của con người...không khéo Ngài lại đi làm cái công việc dã-tràng sao?


Thật vậy, đem cái mà mình đã bao phen khó-nhọc tìm ra để truyền-bá...phỏng có ích-lợi gì chứ? Thiên hạ - những kẻ đầy lòng tham-sân-si...thì giáo-lý ấy sao mà lĩnh-hội được? Nghĩ vậy, Thích Ca quyết ý lặng thinh và không muốn đem truyền-bá nữa...Brahmâ Sahampati (một vị Thần trong truyền thuyết Phật-giáo) thấy vậy bèn hiện lên, đả phá óc hoài nghi của Thích Ca:


- "Ngài hãy nghĩ lại cho thật kỹ! Hiện thời, đúng là không biết bao kẻ...mà tinh thần bị bức màn vô-minh che đậy! Nhưng bức màn vô minh ấy rất mỏng, họ có thể lĩnh hội được...chứ sao không!


- Bậc chí-thánh...thì không cần ai khai-thị đã đành, cũng như kẻ chí-ngu...không ai có thể làm cho họ tỉnh ngộ. Nhưng bậc trung lưu thì sao? Ta rất có thể "khai quan điểm nhãn", họ đang chờ đợi Ngài đó...vả lại, họ đâu phải ít!"


Thích Ca nhìn đầm sen trước mặt...thấy có cọng mọc lên khỏi mặt nước, có cọng thì ẩn dưới mặt nước...Quả thật, trên thế gian này...có kẻ trí - người ngu, đâu phải tất cả đều là bọn ngu phu-ngu phụ...Ngài bèn nói:


* CHÂN LÝ SẼ MỞ RỘNG CỬA CHO MỌI NGƯỜI. KẺ NÀO CÓ TAI ĐỂ NGHE, THÌ NGHE!       


 Ta thấy, Chúa Jésus cũng cùng một DO DỰ và thắc mắc như trên! Chúa Jésus nói:


 -  Một người gieo giống, gieo một phần hột giống...dài trên đường đi, hột giống bị người đi đường đạp lên...và chim trời ăn hết!


 - Một phần rơi trên các tảng đá, không có đủ đất...hột giống vừa mọc thì bị nắng thiêu tàn héo, vì không có đủ gốc rễ vững vàng!


- Một phần lại rơi nhằm các bụi gai góc, gai góc mọc trùm...nên không trổ được!


 - Một phần may mắn rơi vào đất tốt...nó đơm hoa trổ trái!


 * KẺ NÀO CÓ TAI ĐỂ NGHE THÌ NGHE. (Mathew: 13: 1-10 - 18-23) 

QUAN TRUONG
Ngày 08/12/2019


Chú Thích 1:


Những tay họ "thích" như Nguyễn Xuân Bảo (Nhất Hạnh), được VGCS "đào tạo" từ lúc hắn còn học ở Pháp. Quảng Độ - Huyền Quang - Trí Siêu - Tuệ Sỹ..v.v..được học thêm tiếng Nga* sau năm 1975, với tham vọng thay các Kinh luận của Phật-pháp sang lý thuyết Mac-Lenin...mà ta thường gọi là "Phật giáo công an trị", và dĩ nhiên...những tay họ "thích" này sẽ là nòng cốt của "quốc đạo" như bài báo nêu trên.
 
(* ngày 31/8/1998, khi được phỏng vấn...Quảng Độ khoe rằng đã "làm việc nghiên cứu" nhiều năm trong "tù". Quảng Độ cũng khoe đã hoàn thành được bộ Phật Quang đại tự điển 18,000 trang ở trong "tù", và đang tính dịch thêm mấy bộ sách về "Phật giáo" do mấy tên Cộng sản người Nga biên soạn. Quảng Độ khoe đã in xong bộ Phật Quang đại tự điển 18,000 trang ơ Taipei.)

Chứng Nhân Một Sự Kiện Lịch Sử: 1/11/1963


BẢN TIN CỦA TẠP CHÍ DÂN VĂN

(XIN TIẾP TAY PHỔ BIẾN THẬT RỘNG RÃI - CHÂN THÀNH CẢM TẠ.)

LTS: Sau ngày 01.11.1963, tất cả báo chí tại Saigon đều loan tin theo lệnh của Hội Đồng QNCM, để giành “phần phải” về mình, nào là dinh Gia Long có một đường hầm dẫn ra đường Lê Thánh Tôn, sự thật chẳng có đường hầm gì cả, nhất là vụ an táng TT Ngô Đình Diệm bị dấu nhẹm, nay toà soạn Tạp Chí Dân Văn mới nhận được bài viết này, một nhân chứng kể lại “sự kiện lịch sử”, chân thành cảm tạ tác giả THỤY MI.

 


Chứng Nhân Một Sự Kiện Lịch Sử: 1/11/1963


Chứng Nhân Một Sự Kiện Lịch Sử (Về ngày 2 tháng 11 năm 1963, - đã bổ túc 1-11-19)

 

---oo0oo---

 

Đó là một buổi chiều định mệnh… vô cùng đớn đau bi thảm vào đầu tháng 11 năm 1963. Đúng hơn là buổi sáng ngày 02 tháng 11 năm 1963, ông Trần Trung Dung (nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm). Ông Dung đã gọi phone đến nhà Năm Tony. Trong nhà Năm có thêm bạn: Trung, Thạch, Thụy Mi và Vì Dân ngồi gần bàn làm việc. Năm bắt phone và chuyển sang cho ông Ba chủ trại hòm Tobia. Sau một hồi trao đổi, giọng ông Ba trở nên lo lắng, bối rối, quắt quay, bồn chồn. Như có điều gì bức bách lắm. Cuối cùng ông Ba thở dài, buông phone<https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/ts/item/452-ch-ng-nhan-m-t-s-ki-n-l-ch-s-tinh-hoai-huong#> xuống, e dè nhìn mọi người hiện diện, đôi mắt ông rướm lệ rồi ngập ngừng nói nhỏ:

 

- Tổng thống, và ông cố vấn đã chết trong chiếc thiết vận xa M113 mang số 80.989, bởi lệnh của ông Dương văn Minh, do sát thủ là Nguyễn văn Nhung giết hại rùi.

 

Sửng sốt, bàng hoàng. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, tất cả vội túc trực trong phòng khách, mở radio lên lắng nghe. Hội đồng tướng lãnh do Trung-tướng Dương Văn Minh đứng đầu đảo chánh đã thành công. Ông Minh tuyên bố: “Tôi tạm thời lãnh đạo quốc gia”. Đài Phát Thanh Sài Gòn chỉ mở nhạc hoà tấu, nhưng luôn luôn nói đi nói lại là: “Anh em ông Diệm đang ẩn nấp, hoặc... tẩu thoát đâu đó”…

 

Chẳng nói chẳng rằng, ông Ba vội vã kiếm người đi gọi đạo tỳ đến xưởng hòm, để chuẩn bị “hậu sự” cho Tổng Thống Diệm và ông cố-vấn Nhu. Ở nhà kho của ông Ba có nhiều hòm tuy đẹp, đắt tiền. Nhưng không mấy xuất sắc. Chỉ còn một cái hòm tốt nhất bằng gỗ gia tỵ rất quý hiếm, có bọc sẵn thêm cái hòm kẽm ở bên trong. Ý ông Ba muốn để cái hòm nầy cho ông cố vấn Nhu. Ngoài ra, còn một cái hòm nhôm mới toanh láng cón của quân đội Mỹ. Chiếc quan tài nầy rất đẹp, làm bằng nhôm nhẹ, có hai lớp. Bên ngoài mạ lớp sơn bóng loáng, bên trong bọc một lớp đệm nhung mỏng, êm ái như tấm đệm giường ngủ, có thể mở nắp ra đóng vào bằng kính dễ dàng, lộ cả khuôn mặt người quá cố, cho mình nhìn tiễn biệt phút cuối cùng, hòm có chốt cài bên hông. Nếu là xác đã ướp lạnh, có thể để lộ hẳn ra ngoài. Ở Việt Nam chưa xuất hiện loại hòm tân thời như thế.

 

Lẽ ra là chiếc hòm rất sang trọng đẹp đẽ qúy hiếm nầy sẽ đựng thi hài của một viên Tá người Mỹ đã từ trần tại Việt Nam. Nhưng không hiểu sao họ lại mang vất bỏ chiếc quan tài ấy ở bên hông nhà ướp lạnh trong phi trường Tân Sơn Nhứt!?. Tình cờ ông Ba đi làm việc đã thấy. Tiếc quá nên ông Ba nài nỉ, thương lượng với tên quản lý nhà xác, và ông đã mua lại. Ông Ba đem về trưng bày trong tiệm cuả mình, coi chơi. Ai đến mua giá cao cỡ nào, ông cũng không bán. Thế là ông Ba quyết định:

 

- Chỉ có Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới xứng đáng nằm an nghỉ trong đó thôi.

 

Cả hai khuôn hòm được mang ra lau chùi bóng loáng, sát trùng sạch sẽ, họ chuẩn bị sẵn sàng; chờ lệnh. Gần 11 giờ trưa, phone của ông Trần Trung Dung gọi báo:

 

- Nhờ ông vui lòng mang khuôn hòm đến nhà xác bệnh viện Saint Paul. Ở đường Tú Xương. Tuyệt đối không cho đông người đi, và người lạ tháp tùng. Xe chỉ chở đến đó… mỗi lần một quan tài mà thôi.

 

Ông Ba nêu ý kiến:

 

- Có nên lấy thêm một xe nữa. Đi theo phía sau xa xa xe kia. Hay không?

- Không. Chở từng cái một, mỗi xe đi cách xa nhau khoảng nửa giờ. Mang cái “đầu tiên” đi trước.

 

Ông Ba tuân lệnh. Đem cái hòm đặc biệt “đầu tiên” đi. (ý họ muốn nói đến “cái đầu tiên”: là khuôn hòm của Tổng-thống Diệm, người sẽ liệm trước tiên). Chiếc xe tang từ từ lăn bánh. Trên xe có bà chủ tiệm hòm, Năm, Mi & Dân, Thạch, Trung, cộng thêm bốn người đạo tỳ. Xe lao vào đường phố vắng tanh như đi trong thành phố chết, hoặc đang vào giờ giới nghiêm, thiết quân luật vậy. Đến đường Tú Xương, Vì Dân mới thấy phe cách mạng lật đổ chính phủ đã cho cảnh sát, quân cảnh đứng canh gác ở các chốt. Xe jeep chận ngang ngõ vào nhà xác.

 

Ngoài các anh: Năm, Thạch, Trung, Mi, Dân, bà chủ tiệm và bốn đạo tỳ ra, còn có hai soeur có lẽ ở bệnh viện nầy. Thêm vợ chồng cháu rể của Tổng Thống đang lăm le chiếc máy ảnh trong tay. Khi xe tang vào tới bên trong, thì một soeur rón rén, lấp ló, len lén nhìn trước ngó sau, coi soeur có vẻ gian, sợ sệt lén lút, như người làm chuyện mờ ám gì, chả biết. Hình như soeur có lệnh trước, đã vội vàng kéo cánh cửa đóng ập lại liền. Trong nhà xác chỉ có một ngọn đèn vàng lù mù, leo lét, treo lơ lửng tòn ten trên trần.

 

Bốn đạo tỳ mang quan tài đặt trên bệ đá cẩm thạch trong nhà xác. Họ đợi khoảng hai mươi phút sau, thì có một chiếc xe hồng thập tự kiểu Dodge nhà binh (màu cứt ngựa) thắng lết bánh, đỗ xịch lại. Bà soeur canh cổng kia lật đật mở cánh cửa nhà xác ra. Từ trên xe có bốn quân nhân nhảy phóc xuống, họ vội vội vàng vàng khiêng chiếc băng ca lắc lư nhún nhảy. Trên đó có một người nằm cũng nhún nhảy lắc lư theo nhịp bước mau. Họ mang băng ca vào hẳn phía trong, để xuống dưới đất. Họ chả buồn nhìn ai hay nói câu nào, họ cúi đầu vội vã quay trở ra, leo tọt lên xe. Chiếc xe Dodge rít lên nghe rợn tóc gáy vút đi trong sự im lặng hãi hùng…

 

Lúc bấy giờ cả nhóm đông trong phòng liền bước tới đứng sát bên băng ca. Người nằm trên băng ca là vị tổng thống kính mến của nền Đệ Nhất Cộ̣ng Hòa miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm (1901-1963). Ngài mặc bộ veston màu xanh rêu, thắt cà vạt xanh đậm có chấm trắng. Dưới chân ngài mang một chiếc giày màu đen, bên chân kia chỉ có một chiếc tất trắng. Cả bộ comple chìm trong màu máu, trên đầu tổng thống có một vết thương sâu từ dưới ót trổ lên đỉnh đầu, bê bết máu. Ngài nằm đó thản nhiên im lặng, dường như tổng thống say chìm trong giấc ngủ ngàn thu bình an không muộn phiền, chẳng khổ đau…

 

Ánh sáng vụt loé lên. Thì ra ông cháu rể ngoại quốc kia đã bấm được vài ba tấm ảnh. Chả hiểu ông cháu nầy lúng túng, run rẩy, sợ hãi, lo lắng hay sao, mà ông lại vội cất dấu máy hình, không chụp thêm mà lại ngưng? Hay ông thấy cảnh máu me lan tràn như thế, thật hãi hùng và đau lòng. Nên ông không cầm nỗi cơn nghẹn ngào xúc động đau đớn dâng tràn bờ mi?!

 

Đạo tỳ khiêng xác ngài lên, đặt trên một bệ đá cẩm thạch có lót hai lớp vải trắng. Bà chủ tiệm nói với Năm, Thạch, Trung, Vì Dân, và hai soeur:

 

- Nhờ lấy bông gòn và compresse nhúng đầy alcohol, lau nhẹ nhàng, lau sạch sẽ, lau rất cẩn thận các vết máu cho Tổng Thống giúp tôi.

 

Họ lộ vẻ kính cẩn, ân cần, chu đáo sửa sang áo quần Tổng Thống Diệm chỉnh tề, ngay ngắn. Bốn đạo tỳ chăm chỉ cắm cúi lo tn liệm Ngài đàng hoàng. Bà chủ tiệm hòm lâm râm đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người quá cố. Bà nhét vào tay Tổng Thống xâu chuỗi hột mân côi. Hình như Tổng Thống Diệm vừa mới chết, cho nên hai bàn tay ông đã nhẹ nhàng khép lại dễ dàng giữ xâu chuỗi, như ông đang lim dim đọc kinh lần hạt. Mọi người hiện diện nín thở, có cảm tưởng tim đập thiếu nhịp, thở hụt hơi: Nghẹn ngào. Ngậm ngùi. Cay đắng. Bẽ bàng xao động. Đau xót kinh khủng. Thương tiếc sâu sa. Buồn mênh mông cho kiếp phù sinh bạc mệnh. Ngắn ngủi!

 

Họ chưa kịp đậy nắp hòm, thì chiếc xe hồng thập tự lúc nãy đã trờ đến. Cánh cửa lớn do bà soeur kia lum khum hé mở ra. Đám lính lật đật bưng cái xác thứ hai vào. Bà soeur vội vàng khép nhanh cánh cửa ngay. Đó là ông Cố-vấn Ngô đình Nhu mặc áo sơ mi trắng cụt tay ngực đẫm máu. Áo bỏ trong quần màu nâu hơi xộc xệch, thắt dây lưng da, chân mang đôi giày màu kem. Gương mặt ông Nhu có vẻ oán hận, bất bình điều gì, vầng trán thật cao cau lại với nhiều nếp nhăn. Đôi môi ông mím chặt nghiêm nghị. Không thấy ông Nhu có nét thanh thản bình an (như gương mặt thản nhiên của người anh). Ông nằm hơi nghiêng qua một bên. Họ thấy ông bị nhiều vết đâm sau lưng, loại dao bayonet của quân đội. Máu vẫn ứa ra từ các vết thương đó. Trên đầu, ngay thái dương có hai vết thủng. Đó là dấu đạn đi từ bên nầy xuyên sang bên kia.

 

Công việc tn liệm cũng tuần tự diễn ra. Cẩn thận, nhưng hơi vội vàng như lần trước. Không khí lúc nầy quả thực nặng nề kinh khủng! Im lặng hoàn toàn. Hình như ai ai cũng thở rất nhẹ. Vì họ sợ mỗi tiếng động làm dấy lên từ đáy lòng mình tiếng nấc, mà họ đã kềm sâu trong lòng, để khóc thương một kiếp người phù sinh: khi họ đứng trên tột đỉnh danh vọng cao sang dường bao, ấy thế mà lúc họ lìa đời thì quá ư bẽ bàng, bạc phận!? Hoặc sẽ làm hỏng không khí kính cẩn tôn nghiêm; nơi con người thực sự đã bước chân vào cõi vô cùng hư vô? Quả đúng là phân giới giữa sự sống và cõi chết: chỉ ngăn cách bằng một sợi tóc dài lê thê và mỏng tanh, bởi một bức màn sô vô hình tầm thường mà mong manh như sương khói. Nhưng, kiếp người ở hai phân giới ấy đã không thể làm gì khác hơn. Người ở biên giới nầy không thể va mặt, chạm tay vào biên giới vô hình kinh khủng bên kia, và càng không thể biết thêm gì nhau hơn!

 

Đó là hình ảnh nhỏ nhoi tầm thường rất cô độc của con người hiện hữu đối mặt trước sự siêu hình, cao cả của sự sống và sự chết. Quả thật không là gì cả khi thân xác ấy trở thành bất động, lung linh như ảo ảnh hư vô mà vô cùng sống động, thực tế và quá đỗi thương tâm. Các bạn: Mi, Dân, Năm Tony, Thạch, Trung sẽ không bao giờ quên, không bao giờ phai mờ hình ảnh bi thương ấy trong trí óc. Vì, rất thật. Quá thật tình cờ… vô tình mình làm chứng nhân một sự kiện lịch sử trong thế kỷ. Ý thức nhận rõ ràng: Cuộc sống sao quá mỏng manh như một bóng mây trắng hờ hững bay giữa lưng trời rám bạc. Như cành cây oằn thân trong bão khi gió muốn lặng, mà dễ đâu nào!

 

Vì Dân cảm thấy mệt lả, nhịp tim rung lên từng cơn run rẩy, nghẹn nghẽn nỗi đau trong cổ, nàng vội kéo Năm, Thạch, Trung, bước ra thềm nhà xác, đi về hướng Phan Thanh Giản, là mong cho dễ thở hơn. Ngay lúc đó, Mi thấy một đoàn biểu tình náo nhiệt rầm rộ kéo nhau xuống đường. Họ vừa đi vừa giơ nắm tay hò la, hét tướng lên: đả đảo “chế độ gia đình trị họ Ngô”. Họ đi thẳng tới biệt thự đường Phan Thanh Giản của ông Bộ-trưởng Bộ Nội Vụ Bùi Văn Lương, (người đã từng nắm giữ chức vụ Tổng Ủy-trưởng, Tổng Ủy Di Cư năm 1954).

 

Họ lao vào nhà ông Lương đập phá, hôi của. Tất cả mọi thứ trong nhà thoáng chốc “biết đi” biến sạch hết ra ngoài đường. Thậm chí Vì Dân còn thấy có mấy người bưng hai con chó Nhật sợ hãi nhìn quanh, như nó đang muốn tìm cố chủ. Đám biểu tình nhốn nháo bắt đầu xúm lại nổi lửa trong sân. Rất may, lúc đó có toán Cảnh-sát Dã-chiến đến. Họ can ngăn kịp thời. Ôi! Cuộc Cách Mạng phừng phưng thành công rồi đó. Toàn dân bấy giờ đã thoát ra khỏi chế độ “gia đình trị họ Ngô”. Nhưng, rồi đây sẽ đến phiên ai đi tới đi lui, đi lên và đi xuống, đi qua và đi lại? Sẽ ra sao? Xin nhường câu trả lời cho lịch sử từ bây giờ, và những tháng năm sau nầy phán xét.

 

Nghe tiếng bà chủ gọi, các anh, chị, vội chạy trở về nhà xác: khi hai chiếc xe hồng thập tự đã đến lấy quan tài hai anh em họ Ngô. Họ nói với tài xế: “Vô Bộ Tổng Tham Mưu”. (Vì lý do an ninh, nên Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chuyển hai xác anh em Tổng Thống vào Bộ Tổng Tham Mưu, an táng trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo, cạnh chùa An Quốc). Hiện diện, làm việc cấp tốc trong đêm khuya có vị linh mục người Pháp, ông bà Trần Trung Dung, Trung-tá Nguyễn Văn Luông (Trưởng ban mai táng), một số ít quân nhân ở Tổng Tham Mưu.

 

Thế rồi tiếp theo sau mấy cuộc đảo chánh. Chỉnh lý. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đương nhiệm nghe lời ông thầy địa lý phán một câu xanh dờn:

 

- Vì hai huyệt mộ kia đã chôn nhằm “long huyệt”. Cho nên đất nước Việt Nam đã xảy ra lộn xộn liên tục. Muốn cho yên ổn. Phải cho dời đi ngay.

 

Thế là sau ngày đảo chánh ít lâu, bên phòng mai táng ở quân đội miền Nam Việt Nam Cộng Hòa lại cho mời ông Ba đến, họ bàn trước tính sau cặn kẽ, nhờ ông Ba làm hai cái kim tĩnh xây gạch, tráng xi măng trước. Ông Ba lại cho người lên bộ Tổng Tham Mưu lén lút, hì hục đào bới cả hai anh em cố Tổng Thống vào ban đêm. Đạo tỳ làm việc bù đầu suốt canh thâu không ngưng nghỉ; từ chạng vạng tối đến tờ mờ sáng mới xong. Ông Ba đem hai thi thể: ông Diệm và ông Nhu về chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

 

Khi hạ rồng rồi, ông Ba có lệnh chỉ được phép lóng cát phủ lên bề mặt hai ngôi mộ bằng phẳng cho đầy. Bên trên mặt chỉ được lấp ba tấm ván sơ sài. Trông hai ngôi mộ rất hèn mọn, quá tầm thường. Tuyệt đối ông Ba không được phép ghi tên tuổi, ngày tháng trên bia mộ gì cả. Dù chung quanh đó có những ngôi mộ cẩm thạch bóng loáng, vinh sang hào nhoáng lộng lẫy khác. Vì nền Đệ Nhị Cộng Hoà “họ” sợ dân biết tin hai vị ấy nằm đó, dân sẽ đến cầu nguyện và ngưỡng mộ (!?). Nhưng làm sao mà che được tai mắt dân lành!? Không biết do đâu “rò rỉ ra” nguồn tin:

 

- Chính hai ngôi mộ đơn sơ không tên không tuổi, không hình bóng nầy: là mộ phần của anh em Tổng-thống Ngô Đình Diệm.

 

Thế là từ đó, mỗi khi ai ai có dịp vào thăm nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, họ liền đi vào cổng chính, đến đoạn giữa “hai ngôi mộ Anh Em”, nằm đối diện với cái tháp tưởng niệm, và ngôi mộ cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ to lớn nguy nga, tráng lệ nhìn sang “hai anh em: Gioan Baotixita Huynh; Giacobe Đệ”. Có một điều rất khác biệt với những ngôi mộ lộng lẫy sang trọng kia <https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/ts/item/452-ch-ng-nhan-m-t-s-ki-n-l-ch-s-tinh-hoai-huong#>,

thì trên hai ngôi mộ đơn sơ đạm bạc đớn hèn khiêm tốn nầy, luôn luôn có những bó nhang trầm nghi ngút khói, có đóa hoa tươi màu thay đổi mỗi ngày, có bốn ngọn nến sáng lung linh thắp suốt đêm. Hình như người dân dù sợ hãi người khác thanh trừng, nên chỉ âm thầm lén lút đi thắp nến đốt nhang cầu nguyện. Họ luôn tưởng niệm cho “Ngày dài nhất thế kỷ, buổi chiều định mệnh đó”. Họ là những người dân hiền lương ẩn danh nghèo hèn như thầm nói:

 

- Vĩnh biệt Tổng Thống Diệm. Vĩnh biệt ông Cố-vấn Nhu. Xin các Ngài cứ bình thản an nghỉ. Vì, đất nước Việt Nam vẫn còn là đất nước Việt Nam. Có thay đổi chăng, chỉ là đổi mới những sự kiện, và những con người lãnh đạo quốc gia mà thôi. Nguyện cầu nhị vị an nhàn bình thản ra đi… hạnh phúc phiêu lãng ngao du sơn thủy, đi khắp trên mọi miền đất nước Việt Nam, và xin quý ngài phù hộ cho dân lành được ấm no, bình an hạnh phúc thật sự, như qúy vị hằng đợi mong. Xin qúy vị lãng quên cuộc đời bạc bẽo. Quên con người hết sức trắng trợn độc ác tham tàn và… xin hãy tha thứ cho con người rối rắm hèn kém suy nghĩ kia, những kẻ đã tàn nhẫn hại mình. Kiếp người ô trọc đảo điên và phù du rồi sẽ khép lại sau đôi mắt hờ hững lặng nhìn. Vì Dân tôi, một chứng nhân vô tình hèn mọn trong bóng tối lịch sử buông tiếng thở dài sâu lắng, trầm buồn và ngậm ngùi trên mỗi phím loan: Ối ôi ồi!!! …

 

***

 

Mãi về những năm gần đây, sau nầy thôi, thì hài cốt "hai huynh - đệ: Gioan Baotixita Huynh ; Giacobe Đệ" (trên bia mộ vẫn không ghi tên thật, ngày tháng năm gì cả) lần thứ ba, họ lại được thân nhân đào lên, cải táng cho nhị vị về an nghỉ tại "Nghĩa-trang số 6", ấp Đông An, xã An Bình, huyện Dĩ An. Lần nầy, Thụy Mi Vì Dân chấp đôi tay khẩn thiết cầu xin Thiên Chúa cho quý "Huynh-Đệ" thật sự bình an, yên nghỉ vĩnh viễn dưới lòng đất quê hương Việt Nam. Xin đừng "bới móc thi hài người quá cố" lên thêm lần thứ bốn làm chi nữa! Đã quá đủ thảm thương rồi!

 

THỤY MI

 

Subscribe to our Newsletter

Contact our Support

Email us: Support@templateism.com

Thành Viên của Website